20/07/2026 · Việt Nam EN

Citizenship · Capital · Global Mobility

The Legation Times

Nhập quốc tịch nước ngoài không tự làm mất quốc tịch Việt Nam

Edward Nguyen Edward Nguyen ·cập nhật 08/10/2026
Tấm bản đồ, chiếc la bàn và hai cuốn hộ chiếu đặt cạnh nhau.

Công dân Việt Nam không phải xin giữ quốc tịch Việt Nam; Chủ tịch nước cho phép ở chiều ngược lại, khi người xin nhập hoặc trở lại quốc tịch Việt Nam muốn giữ quốc tịch nước ngoài.

Nhà đầu tư Việt Nam nhập quốc tịch Bồ Đào Nha, Grenada hay Canada không vì thế mà mất quốc tịch Việt Nam. Điều 26 Luật Quốc tịch Việt Nam liệt kê các căn cứ mất quốc tịch, trong đó không có việc nhập quốc tịch nước ngoài. Luật sửa đổi có hiệu lực từ ngày 1/7/2025 cũng không bổ sung căn cứ này.

Những thay đổi nằm ở đối tượng được giữ quốc tịch nước ngoài cùng với quốc tịch Việt Nam, nơi nộp hồ sơ xin nhập quốc tịch và thời hạn Nhà nước được hủy bỏ quyết định cho nhập quốc tịch đã ban hành.

Có hộ chiếu nước ngoài không phải là căn cứ mất quốc tịch Việt Nam

Điều 26 tiếp tục quy định 4 căn cứ mất quốc tịch Việt Nam:

  • Được thôi quốc tịch.
  • Bị tước quốc tịch.
  • Các trường hợp tại khoản 2 Điều 18 và Điều 35.
  • Mất quốc tịch theo điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.

Luật số 79/2025/QH15 bổ sung căn cứ thứ năm tại khoản 2a Điều 26, là bị hủy bỏ quyết định cho nhập hoặc cho trở lại quốc tịch Việt Nam.

Luật năm 2008 ban đầu còn quy định việc không đăng ký giữ quốc tịch là một căn cứ mất quốc tịch. Căn cứ này đã bị bãi bỏ năm 2014, hơn một thập niên trước khi căn cứ hủy bỏ quyết định được bổ sung. Điều khoản bãi bỏ căn cứ này trong Luật số 56/2014/QH13 có toàn văn: “Bãi bỏ khoản 3 Điều 26.”

Không căn cứ nào còn hiệu lực khiến một người mất quốc tịch Việt Nam chỉ vì cơ quan nước ngoài cấp hộ chiếu cho họ. Công dân Việt Nam nhập quốc tịch nước ngoài mà không thực hiện thêm thủ tục nào vẫn là công dân Việt Nam, bất kể có thông báo cho phía Việt Nam hay không.

Pháp luật về thuế, tài sản và nghĩa vụ đối với Nhà nước quy định các quyền, trách nhiệm phát sinh từ tư cách công dân. Đối với công dân định cư ở nước ngoài, khoản 4 Điều 5 cũng quy định quyền và nghĩa vụ của họ được xác định theo pháp luật có liên quan.

Giới hạn của việc cho phép giữ quốc tịch nước ngoài

Khoản 6 Điều 19 và khoản 5 Điều 23 điều chỉnh trường hợp theo chiều ngược lại: Người xin nhập hoặc xin trở lại quốc tịch Việt Nam muốn giữ quốc tịch nước ngoài đang có. Người đó phải được Chủ tịch nước cho phép và đáp ứng đồng thời 2 điều kiện.

Việc giữ quốc tịch phải phù hợp với pháp luật của nước ngoài đó; đồng thời, họ không được sử dụng quốc tịch nước ngoài để gây phương hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân hoặc xâm hại an ninh, lợi ích quốc gia, trật tự, an toàn xã hội của Nhà nước.

Hiểu đây là yêu cầu công dân Việt Nam di cư phải xin phép trước khi nhập quốc tịch nước ngoài là đảo ngược đối tượng áp dụng của quy định. Pháp luật không đặt ra loại giấy phép đó.

Hai nhóm người xin nhập quốc tịch được đề nghị giữ quốc tịch nước ngoài

Trong thủ tục nhập quốc tịch Việt Nam, chỉ những người thuộc khoản 2 hoặc khoản 3 Điều 19 mới được đề nghị giữ quốc tịch nước ngoài. Phạm vi miễn điều kiện nhập quốc tịch của 2 nhóm này khác nhau.

Khoản 2 Điều 19 áp dụng với người có vợ, chồng hoặc con đẻ là công dân Việt Nam. Nhóm này được miễn điều kiện biết tiếng Việt, điều kiện thường trú tại Việt Nam từ 5 năm trở lên và điều kiện có khả năng bảo đảm cuộc sống tại Việt Nam. Tuy nhiên, họ vẫn phải đáp ứng điều kiện riêng về việc đang thường trú tại Việt Nam khi nộp đơn.

Khoản 3 Điều 19 áp dụng cho 4 nhóm:

  • Người có cha đẻ hoặc mẹ đẻ là công dân Việt Nam, hoặc có cả ông nội và bà nội, hoặc cả ông ngoại và bà ngoại là công dân Việt Nam.
  • Người có công lao đặc biệt đóng góp cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
  • Người mà việc nhập quốc tịch mang lại lợi ích cho Nhà nước.
  • Người chưa thành niên xin nhập quốc tịch cùng cha hoặc mẹ.

Ngoài các điều kiện được miễn ở nhóm trên, nhóm này còn được miễn điều kiện đang thường trú tại Việt Nam.

Điều kiện về ông bà đòi hỏi cả hai người ở cùng một bên nội hoặc ngoại phải là công dân Việt Nam. Điểm a khoản 3 Điều 19 ghi “ông nội và bà nội hoặc ông ngoại và bà ngoại”, nên có một người ông hoặc bà bên nội và một người bên ngoại là công dân Việt Nam không đáp ứng điều kiện này.

Phạm vi được xem xét trở lại quốc tịch Việt Nam còn được mở rộng hơn. Theo Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008, người đã mất quốc tịch Việt Nam chỉ có thể xin trở lại quốc tịch nếu thuộc một trong 6 trường hợp được liệt kê, trong đó có thực hiện đầu tư tại Việt Nam.

Khoản 1 Điều 23 sau khi được thay thế quy định người đã mất quốc tịch theo Điều 26 có đơn xin trở lại quốc tịch Việt Nam thì được xem xét cho trở lại. Người nộp đơn không còn phải thuộc danh sách trường hợp nói trên, nhưng việc chấp thuận vẫn phải qua xem xét, quyết định.

Nơi tiếp nhận hồ sơ cũng thay đổi. Theo luật năm 2008, người xin nhập quốc tịch nộp hồ sơ tại Sở Tư pháp nơi cư trú.

Khoản 1 Điều 21 sau khi được thay thế quy định người cư trú trong nước nộp tại Sở Tư pháp, còn người cư trú ở nước ngoài nộp tại cơ quan đại diện Việt Nam ở nước sở tại. Cơ quan đại diện kiểm tra hồ sơ rồi chuyển về Bộ Tư pháp kèm ý kiến đề xuất.

Sau đó, thủ tục chia thành 2 hướng. Với người đã xin giữ quốc tịch nước ngoài và người không quốc tịch, tức không có quốc tịch của bất kỳ nước nào, Bộ Tư pháp chuyển thẳng sang bước báo cáo Thủ tướng Chính phủ để trình Chủ tịch nước.

Với những người còn lại, trước hết Bộ gửi văn bản thông báo để họ làm thủ tục thôi quốc tịch nước ngoài. Chỉ sau khi nhận được giấy tờ cho thôi quốc tịch nước ngoài, Bộ mới báo cáo Thủ tướng Chính phủ để trình Chủ tịch nước.

Theo khoản 1 Điều 38, Chủ tịch nước quyết định việc cho nhập, cho trở lại, cho thôi, tước quốc tịch và hủy bỏ quyết định cho nhập hoặc cho trở lại quốc tịch Việt Nam.

Có quốc tịch và chứng minh quốc tịch là hai việc khác nhau

Với một gia đình đã định cư ở nước ngoài nhiều thập niên, khó khăn lớn hơn có thể nằm ở giấy tờ chứng minh. Khoản 2 Điều 13 xác định người Việt Nam ở nước ngoài chưa mất quốc tịch Việt Nam trước khi luật sửa đổi có hiệu lực thì vẫn còn quốc tịch Việt Nam.

Tuy nhiên, họ có thể cần được xác nhận quốc tịch trước khi một cơ quan hoặc tổ chức giải quyết công việc trên cơ sở đó. Việc xác nhận chứng minh một tư cách pháp lý đã tồn tại, không tạo ra quốc tịch mới.

Giấy tờ dùng cho việc này là Giấy xác nhận có quốc tịch Việt Nam. Theo Điều 29 Nghị định số 191/2025/NĐ-CP, thẩm quyền cấp thuộc Sở Tư pháp hoặc cơ quan đại diện Việt Nam tại nơi người yêu cầu cư trú vào thời điểm nộp hồ sơ. Điều 30 quy định thành phần hồ sơ và các bước kiểm tra, xác minh, đồng thời có cách giải quyết cho người không còn bất kỳ giấy tờ nào chứng minh quốc tịch, như trường hợp gia đình đã thất lạc giấy tờ.

Thôi quốc tịch có điều kiện, hồ sơ vẫn cần xác nhận về thuế

Quốc tịch Việt Nam chấm dứt khi công dân được chấp thuận cho thôi, chứ không phải chỉ vì họ nhập quốc tịch nước ngoài. Điều 27 của luật năm 2008, không được sửa đổi vào năm 2025, phân biệt trường hợp chưa được thôi với trường hợp không được thôi quốc tịch.

Người xin thôi quốc tịch chưa được chấp thuận nếu thuộc một trong các trường hợp sau:

  • Còn nợ thuế đối với Nhà nước hoặc có nghĩa vụ tài sản đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân ở Việt Nam.
  • Đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
  • Đang chấp hành bản án hoặc quyết định của Tòa án Việt Nam.
  • Đang bị tạm giam để chờ thi hành án.
  • Đang chấp hành một trong các biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở được quy định tại khoản 2 Điều 27.

Nếu việc thôi quốc tịch làm phương hại đến lợi ích quốc gia, người đó không được thôi quốc tịch Việt Nam. Cán bộ, công chức và người đang phục vụ trong lực lượng vũ trang nhân dân cũng không được thôi quốc tịch.

Sửa đổi năm 2025 giảm một thành phần hồ sơ nhưng giữ lại thành phần khác. Yêu cầu nộp Phiếu lý lịch tư pháp do cơ quan Việt Nam cấp đã bị bãi bỏ.

Giấy xác nhận không nợ thuế vẫn được giữ, nhưng cơ quan cấp nay là cơ quan quản lý thuế nơi người xin thôi quốc tịch cư trú, thay cho Cục Thuế cấp tỉnh. Công dân Việt Nam không thường trú ở Việt Nam không phải nộp giấy này.

Không còn giới hạn 5 năm để hủy bỏ quyết định cho nhập quốc tịch

Cùng với việc mở rộng diện được giữ quốc tịch nước ngoài, luật sửa đổi cũng siết quy định về hủy bỏ quyết định cho nhập quốc tịch.

Điều 33 của luật năm 2008 chỉ cho phép hủy bỏ quyết định cho nhập quốc tịch có được do cố ý khai báo gian dối hoặc dùng giấy tờ giả mạo nếu quyết định đó được ban hành chưa quá 5 năm. Luật số 79/2025/QH15 thay thế toàn bộ Điều 33, và nội dung mới không còn quy định thời hạn này.

Điều 33 sau khi được thay thế còn bổ sung căn cứ thứ hai: Lợi dụng việc nhập hoặc trở lại quốc tịch Việt Nam, hay quốc tịch nước ngoài được giữ lại khi đó, để gây phương hại đến quyền, lợi ích hợp pháp hoặc xâm hại an ninh, lợi ích quốc gia, trật tự, an toàn xã hội.

Phạm vi hủy bỏ nay bao gồm cả quyết định cho trở lại quốc tịch, bên cạnh quyết định cho nhập quốc tịch. Khoản 2a Điều 26 đồng thời quy định rõ đây là một căn cứ mất quốc tịch Việt Nam.

Quy định này có 2 giới hạn về hệ quả đối với gia đình. Việc hủy bỏ quyết định cho nhập hoặc cho trở lại quốc tịch của vợ hoặc chồng không làm thay đổi quốc tịch Việt Nam của người còn lại. Quốc tịch của con chưa thành niên cũng không thay đổi khi quyết định cho nhập hoặc cho trở lại quốc tịch của cha hoặc mẹ bị hủy bỏ.

Những vấn đề Luật Quốc tịch không quyết định

Các quy định trên không giải quyết 2 vấn đề. Thứ nhất, nước thứ hai có cho phép công dân của mình đồng thời có quốc tịch khác hay không là vấn đề thuộc pháp luật nước đó. Sự cho phép của Việt Nam về giữ quốc tịch nước ngoài không thể thay thế quy định của nước ngoài, dù việc phù hợp với pháp luật nước đó đã là một trong 2 điều kiện để được Việt Nam cho phép.

Thứ hai, việc một người có được coi là cá nhân cư trú tại Việt Nam cho mục đích tính thuế hay không do pháp luật thuế thu nhập cá nhân quyết định, không phụ thuộc vào những hộ chiếu họ có — đây là một vấn đề riêng, có căn cứ xác định riêng.

Luật Quốc tịch Việt Nam quy định rõ tư cách của người có đồng thời quốc tịch Việt Nam và quốc tịch nước ngoài khi làm việc với cơ quan Việt Nam. Khoản 4 Điều 5 sau khi được thay thế quy định, trên lãnh thổ Việt Nam, Nhà nước chỉ công nhận quốc tịch Việt Nam của những công dân này trong quan hệ với cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam, trừ trường hợp điều ước quốc tế có quy định khác.

Khoản 5 Điều 5 yêu cầu chỉ có quốc tịch Việt Nam và thường trú tại Việt Nam đối với một nhóm đối tượng được xác định cụ thể:

  • Người ứng cử, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm hoặc chỉ định giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hoặc tổ chức chính trị – xã hội.
  • Người trong tổ chức cơ yếu, tức tổ chức làm công tác bảo mật thông tin bằng mật mã.
  • Người trong lực lượng vũ trang.

Khoản 6 Điều 5 yêu cầu công chức, viên chức ngoài nhóm trên chỉ có quốc tịch Việt Nam, đồng thời quy định ngoại lệ đối với trường hợp có lợi cho Nhà nước và không làm phương hại đến lợi ích quốc gia. Khoản này cũng yêu cầu thường trú tại Việt Nam. Khoản 8 Điều 5, cũng là quy định mới, xác định quyết định hành chính của cơ quan có thẩm quyền Việt Nam về quốc tịch theo luật này không bị khiếu nại, khởi kiện.

Thời hạn rà soát các quy định liên quan

Khoản 2 Điều 2 Luật số 79/2025/QH15 giao các bộ, cơ quan ngang bộ và cơ quan liên quan thời hạn 2 năm kể từ ngày 1/7/2025 để rà soát những văn bản pháp luật quy định quyền, nghĩa vụ của công dân Việt Nam đồng thời có quốc tịch nước ngoài. Các cơ quan phải sửa đổi theo thẩm quyền hoặc đề xuất cơ quan có thẩm quyền sửa đổi. Thời hạn này kết thúc vào ngày 1/7/2027.

Hỏi đáp về song tịch

Song tịch ở Việt Nam có được phép không?

Điều 4 Luật Quốc tịch Việt Nam, được giữ nguyên qua hai lần sửa đổi năm 2014 và năm 2025, nêu nguyên tắc: Nhà nước công nhận công dân Việt Nam có một quốc tịch là quốc tịch Việt Nam, “trừ trường hợp Luật này có quy định khác”. Các ngoại lệ nằm ngay trong luật.

Công dân Việt Nam có thêm quốc tịch nước ngoài vẫn giữ quốc tịch Việt Nam, vì việc nhập quốc tịch nước ngoài không phải là căn cứ mất quốc tịch theo Điều 26. Người nước ngoài xin nhập quốc tịch Việt Nam chỉ được giữ quốc tịch nước ngoài khi xin theo khoản 2 hoặc khoản 3 Điều 19; người xin trở lại quốc tịch Việt Nam thì được đề nghị giữ quốc tịch nước ngoài dù xin theo căn cứ nào.

Cả hai trường hợp đều cần Chủ tịch nước cho phép và phải đáp ứng 2 điều kiện: Việc giữ quốc tịch nước ngoài phù hợp với pháp luật của nước đó, và không sử dụng quốc tịch nước ngoài để gây phương hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân hoặc xâm hại lợi ích quốc gia.

Trên lãnh thổ Việt Nam, công dân Việt Nam đồng thời có quốc tịch nước ngoài chỉ được công nhận quốc tịch Việt Nam trong quan hệ với cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam, trừ trường hợp điều ước quốc tế có quy định khác.

Người song tịch có làm được thẻ căn cước (CCCD) không?

Theo Điều 19 Luật Căn cước, thẻ căn cước được cấp cho công dân Việt Nam: Bắt buộc từ đủ 14 tuổi, dưới 14 tuổi cấp theo nhu cầu. Điều 19 không đặt điều kiện về cư trú.

Người song tịch chưa mất quốc tịch Việt Nam là công dân Việt Nam, và trên lãnh thổ Việt Nam, khoản 4 Điều 5 Luật Quốc tịch chỉ công nhận quốc tịch Việt Nam của họ trong quan hệ với cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam, trừ trường hợp điều ước quốc tế có quy định khác; theo câu chữ của các văn bản, họ thuộc đối tượng được cấp thẻ theo Điều 19.

Giấy chứng nhận căn cước là loại giấy tờ khác, dành cho người gốc Việt Nam chưa xác định được quốc tịch, đang sinh sống tại Việt Nam và không có giấy tờ chứng minh có quốc tịch Việt Nam hay quốc tịch nước khác; người có hộ chiếu nước ngoài không thuộc định nghĩa này.

Điều 27 Luật Căn cước, được Luật 118/2025/QH15 thay thế từ ngày 1/7/2026, quy định nơi làm thủ tục là cơ quan quản lý căn cước của Công an tỉnh, thành phố và Công an xã, phường, đặc khu; văn bản năm 2023 ghi “nơi công dân cư trú”, văn bản thay thế không còn cụm từ này.

Nghị định 58/2026/NĐ-CP, có hiệu lực từ ngày 15/3/2026, xử lý trường hợp công dân định cư ở nước ngoài đã đăng ký khai sinh tại Việt Nam, hoặc đã được ghi vào sổ hộ tịch việc khai sinh đăng ký ở nước ngoài, mà chưa có số định danh cá nhân: Cơ quan quản lý căn cước của Bộ Công an phối hợp với Bộ Ngoại giao thu thập thông tin qua cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài và xác lập số định danh cho họ.

Chưa xác định được công dân ở nước ngoài có làm được thẻ căn cước tại cơ quan đại diện hay không, và thẻ sẽ ghi nơi cư trú nào cho công dân không cư trú tại Việt Nam.

Người song tịch có phải đi nghĩa vụ quân sự không?

Luật Nghĩa vụ quân sự, theo văn bản hợp nhất tháng 9/2026, quy định công dân trong độ tuổi thực hiện nghĩa vụ quân sự, “không phân biệt dân tộc, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo, trình độ học vấn, nghề nghiệp, nơi cư trú”, phải thực hiện nghĩa vụ quân sự. Phục vụ tại ngũ là nghĩa vụ của công dân nam; công dân nữ trong thời bình chỉ phục vụ tại ngũ nếu tự nguyện và quân đội có nhu cầu.

Công dân nam đăng ký nghĩa vụ quân sự từ đủ 17 tuổi và có thể được gọi nhập ngũ từ đủ 18 tuổi đến hết 25 tuổi, hoặc đến hết 27 tuổi nếu đã được tạm hoãn để học cao đẳng, đại học. Công dân đã đăng ký nghĩa vụ quân sự mà đi khỏi nơi cư trú, nơi làm việc, học tập từ 3 tháng trở lên phải đăng ký nghĩa vụ quân sự tạm vắng.

Tìm trong toàn bộ văn bản hợp nhất không thấy cụm từ “nước ngoài” hay “quốc tịch” ở bất kỳ chỗ nào. Bên cạnh đó, khoản 5 Điều 5 Luật Quốc tịch, có hiệu lực từ ngày 1/7/2025, yêu cầu người tham gia lực lượng vũ trang phải chỉ có một quốc tịch là quốc tịch Việt Nam và phải thường trú tại Việt Nam.

Khoản 7 Điều 5 quy định nếu luật khác ban hành trước ngày 1/7/2025 có quy định về quốc tịch khác với khoản 5 và khoản 6 thì áp dụng Luật Quốc tịch; Luật Nghĩa vụ quân sự không có quy định nào về quốc tịch, nên quy tắc ấy có được áp dụng hay không cũng chưa được các văn bản trả lời.

Chưa tìm thấy văn bản nào nói hai luật này áp dụng ra sao khi gọi nhập ngũ một công dân song tịch, và bài viết không đưa ra kết luận. Nghị định về đăng ký nghĩa vụ quân sự chưa được đối chiếu trong bài viết này.

Song tịch Việt – Mỹ thì sao?

Hoa Kỳ thừa nhận song tịch là tình trạng có tồn tại nhưng, theo Sổ tay Đối ngoại của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, không khuyến khích. Theo 8 U.S.C. 1481, nhập quốc tịch nước ngoài sau khi đủ 18 tuổi là một trong các hành vi được liệt kê có thể làm mất quốc tịch Hoa Kỳ, nhưng chỉ khi hành vi đó là tự nguyện và nhằm từ bỏ quốc tịch Hoa Kỳ.

Sổ tay nêu rằng ý định giữ quốc tịch được mặc nhiên suy đoán; vì vậy công dân Hoa Kỳ nhập quốc tịch nước khác không tự động mất quốc tịch Hoa Kỳ. Người nhập quốc tịch Hoa Kỳ phải tuyên thệ từ bỏ lòng trung thành với mọi quốc gia khác, nhưng Sổ tay nêu rõ lời tuyên thệ không có nghĩa là nước đó không còn coi người ấy là công dân của mình.

Công dân Hoa Kỳ, kể cả người song tịch, phải nhập cảnh và xuất cảnh Hoa Kỳ bằng hộ chiếu Hoa Kỳ, trừ một số ngoại lệ hẹp. Về phía Việt Nam, nhập quốc tịch Hoa Kỳ không phải là căn cứ mất quốc tịch theo Điều 26.

Song tịch Việt – Đức thì sao?

Theo Bộ Nội vụ Liên bang Đức, từ ngày 27/6/2024 Đức về nguyên tắc chấp nhận đa quốc tịch. Người nhập quốc tịch Đức không còn phải từ bỏ quốc tịch đang có, và công dân Đức có thêm quốc tịch khác không còn mất quốc tịch Đức. Thời gian cư trú để được nhập quốc tịch theo diện có quyền yêu cầu, về nguyên tắc, tối thiểu là 5 năm; diện rút ngắn còn 3 năm đã bị bãi bỏ từ ngày 30/10/2025.

Luật Quốc tịch Đức có quy định riêng cho lao động hợp đồng nhập cảnh vào lãnh thổ Đông Đức cũ chậm nhất ngày 13/6/1990, và cho người vợ hoặc chồng sang đoàn tụ trong khoảng thời gian đó: Được miễn điều kiện tự bảo đảm sinh kế nếu việc phải nhận trợ cấp không do lỗi của họ, chỉ cần khả năng nói tiếng Đức, và không phải làm bài kiểm tra nhập quốc tịch. Về phía Việt Nam, nhập quốc tịch Đức không phải là căn cứ mất quốc tịch theo Điều 26.

Song tịch Hàn – Việt thì sao?

Luật Quốc tịch Hàn Quốc yêu cầu người nước ngoài nhập quốc tịch Hàn Quốc phải từ bỏ quốc tịch nước ngoài trong vòng 1 năm kể từ ngày có quốc tịch Hàn Quốc. Một số nhóm được liệt kê có thể thay vào đó cam kết với Bộ trưởng Tư pháp không sử dụng quốc tịch nước ngoài tại Hàn Quốc.

Với công dân Việt Nam chưa từng có quốc tịch Hàn Quốc, luật nêu 2 nhóm: Người nhập quốc tịch với tư cách vợ hoặc chồng của công dân Hàn Quốc khi hôn nhân còn tồn tại, sau 2 năm liên tục có nơi cư trú tại Hàn Quốc, hoặc sau 3 năm kết hôn với tối thiểu 1 năm có nơi cư trú tại Hàn Quốc; và người có đóng góp lớn cho Hàn Quốc hoặc có năng lực rất xuất sắc trong các lĩnh vực như khoa học, kinh tế, văn hóa, thể thao.

Có 3 nhóm khác dành cho người trở lại quốc tịch Hàn Quốc mà họ từng có, và nhóm thứ năm do Nghị định của Tổng thống quy định, một văn bản chưa được đối chiếu trong bài viết này.

Người không từ bỏ và cũng không cam kết đúng hạn sẽ mất quốc tịch Hàn Quốc. Người được luật và nghị định xếp vào diện đa quốc tịch chỉ được đối xử như công dân Hàn Quốc khi áp dụng pháp luật Hàn Quốc, và công dân Hàn Quốc tự nguyện nhập quốc tịch nước khác mất quốc tịch Hàn Quốc ngay thời điểm đó.

Về phía Việt Nam, kết hôn với người nước ngoài không làm thay đổi quốc tịch Việt Nam của công dân (Điều 9), và việc nhập quốc tịch Hàn Quốc không phải là căn cứ mất quốc tịch theo Điều 26. Khi Hàn Quốc yêu cầu từ bỏ quốc tịch Việt Nam, việc đó phải thực hiện theo thủ tục thôi quốc tịch của Việt Nam, vốn có điều kiện như bài viết đã nêu ở trên; chính việc thôi quốc tịch, không phải việc nhập quốc tịch Hàn Quốc, mới làm chấm dứt quốc tịch Việt Nam.

Bản tiếng Anh của Luật Quốc tịch Hàn Quốc là bản dịch không chính thức, không có giá trị pháp lý.

Cập nhật ngày 08/10/2026 — Viết lại toàn bộ ngày 10/9/2026 từ chính các văn bản: Luật số 24/2008/QH12, Luật số 56/2014/QH13, Luật số 79/2025/QH15 và Nghị định số 191/2025/NĐ-CP. Ngày đăng giữ nguyên. Bổ sung mục hỏi đáp ngày 8/10/2026.

The Legation Times biên soạn nội dung từ tài liệu đã công bố; nội dung tại đây không phải tư vấn pháp lý, tư vấn thuế hay khuyến nghị đầu tư. Trường hợp quý độc giả phát hiện ra sai sót, kính mời quý độc giả gửi yêu cầu đính chính. Với trường hợp liên quan đến quyền sử dụng nội dung, hãy thực hiện gửi yêu cầu gỡ bỏ.

Đọc thêm

Bản tin hàng tuần

Bản tin về đầu tư quốc tịch, dòng vốn và dịch chuyển toàn cầu sẽ được gửi hàng tuần. Quý độc giả vui lòng để lại địa chỉ thư điện tử để nhận bản tin mới nhất.