Xuất nhập cảnh Việt Nam: được mang vàng trang sức, không được mang vàng miếng

Xuất nhập cảnh bằng hộ chiếu không được mang vàng miếng, vàng nguyên liệu; vàng trang sức được mang, khai báo từ 300 g. Người Việt được phép định cư ở nước ngoài được mang mọi loại vàng, từ 1 kg cần giấy phép.
Người xuất cảnh, nhập cảnh Việt Nam bằng hộ chiếu được mang theo vàng trang sức, mỹ nghệ, và phải khai báo với cơ quan Hải quan khi tổng khối lượng từ 300 g trở lên. Nhưng chính người đó lại không được mang bất kỳ vàng miếng hay vàng nguyên liệu nào, dù chiều đi hay chiều về.
Video · 0:47Xem bản tin video dưới một phútThông tư 11/2014/TT-NHNN quy định cá nhân xuất cảnh, nhập cảnh Việt Nam bằng hộ chiếu không được mang theo vàng miếng, vàng nguyên liệu. Vàng trang sức, mỹ nghệ được mang, và phải khai báo với cơ quan Hải quan khi tổng khối lượng từ 300 g trở lên.
Ranh giới này, do Thông tư 11/2014/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam vạch ra, trước hết dựa vào loại vàng, sau đó mới đến khối lượng. Các định nghĩa về vàng trong pháp luật Việt Nam cho thấy ranh giới ấy áp dụng cả với thỏi vàng mua ở nước ngoài.
Vàng trang sức được mang, vàng miếng thì không
Theo Điều 2 Thông tư 11/2014/TT-NHNN, cá nhân Việt Nam và cá nhân nước ngoài xuất cảnh, nhập cảnh bằng hộ chiếu không được phép mang theo vàng miếng, vàng nguyên liệu. Họ được mang vàng trang sức, mỹ nghệ; trường hợp tổng khối lượng từ 300 g trở lên thì phải khai báo với cơ quan Hải quan. Thông tư không nêu mức trần khối lượng nào cho vàng trang sức, mà chỉ đặt ngưỡng khai báo đó.
Hướng dẫn năm 2021 của Hải quan Việt Nam cho người xuất cảnh nhắc lại cả hai quy định, và Hải quan xếp vàng trang sức từ 300 g trở lên vào nhóm hàng phải khai báo khi xuất cảnh.
Cá nhân nước ngoài nhập cảnh mang theo vàng miếng, vàng nguyên liệu phải làm thủ tục gửi tại kho Hải quan để mang ra khi xuất cảnh, hoặc làm thủ tục chuyển ra nước ngoài, và tự chịu mọi chi phí phát sinh.
Thông tư có hiệu lực từ ngày 15/5/2014. Cơ sở dữ liệu pháp luật quốc gia của Bộ Tư pháp ghi thông tư ở tình trạng “hết hiệu lực một phần”, nhưng văn bản duy nhất được nêu làm căn cứ là một thông tư năm 2015 sửa quy định về loại bản sao giấy tờ trong hồ sơ xin giấy phép; bản ghi không có ngày hết hiệu lực và không ghi văn bản nào làm thông tư hết hiệu lực toàn bộ.
Chưa tìm thấy văn bản thay thế trong cơ sở dữ liệu đó, trong tên các văn bản của Ngân hàng Nhà nước đăng Công báo từ tháng 1/2022 đến ngày 30/9/2026, hay trong danh sách văn bản bị bãi bỏ của thông tư về kinh doanh vàng mà Ngân hàng Nhà nước ban hành năm 2025.
Nghị định 24/2012/NĐ-CP về quản lý hoạt động kinh doanh vàng, tại một điều không bị sửa trong lần sửa đổi năm 2025, vẫn quy định người xuất cảnh, nhập cảnh qua các cửa khẩu quốc tế được mang theo vàng theo quy định của Ngân hàng Nhà nước; lần sửa đổi đó cũng giữ lại giấy phép của Ngân hàng Nhà nước cho cá nhân mang theo vàng vượt mức quy định.
Pháp luật Việt Nam xếp thỏi vàng mua ở nước ngoài vào loại nào
Pháp luật Việt Nam định nghĩa vàng miếng theo nghĩa hẹp. Theo Nghị định 24/2012, đã được Nghị định 232/2025/NĐ-CP sửa đổi, vàng miếng là sản phẩm vàng được dập thành miếng, có đóng chữ, số chỉ khối lượng, chất lượng và ký mã hiệu của doanh nghiệp, ngân hàng thương mại được Ngân hàng Nhà nước cho phép sản xuất, hoặc vàng miếng do Ngân hàng Nhà nước tổ chức sản xuất. Vàng nguyên liệu là vàng dưới dạng khối, thỏi, hạt, miếng và các loại vàng khác.
Một thỏi vàng mua tại Hoa Kỳ mang ký mã hiệu của nhà tinh luyện nước ngoài do đó thuộc loại vàng nguyên liệu theo pháp luật Việt Nam. Cách xếp loại không làm thay đổi kết quả với người xuất nhập cảnh: Cả hai loại đều không được mang theo khi đi bằng hộ chiếu.
Định cư ở nước ngoài hoặc tại Việt Nam
Các ngoại lệ gắn với việc định cư. Cá nhân Việt Nam được phép định cư ở nước ngoài, khi xuất cảnh, được mang theo mọi loại vàng (vàng nguyên liệu, vàng miếng, vàng trang sức, mỹ nghệ).
Tổng khối lượng từ 300 g đến dưới 1 kg phải khai báo với cơ quan Hải quan. Từ 1 kg trở lên, người đó còn phải có Giấy phép mang vàng khi xuất cảnh định cư ở nước ngoài do Ngân hàng Nhà nước chi nhánh tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi mình cư trú cấp.
Hồ sơ xin giấy phép gồm đơn xin cấp giấy phép; hóa đơn mua hàng hoặc giấy tờ khác chứng minh nguồn gốc hợp pháp của số vàng, hoặc giấy cam đoan của chính người mang vàng nếu không có hóa đơn, giấy tờ đó; hộ chiếu, kèm thị thực nếu nước đến yêu cầu; và quyết định của cơ quan có thẩm quyền cho phép định cư hoặc giấy tờ khác có giá trị tương đương.
Giấy tờ bằng tiếng nước ngoài phải được dịch sang tiếng Việt và công chứng, hoặc chứng thực chữ ký của người dịch. Chi nhánh xem xét cấp giấy phép trong 15 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, nếu từ chối phải trả lời bằng văn bản nêu rõ lý do, và giấy phép có giá trị trong 6 tháng kể từ ngày cấp.
Thông tư vẫn ghi chi nhánh cấp tỉnh, trong khi thông tư về kinh doanh vàng năm 2025 của Ngân hàng Nhà nước quy định hồ sơ theo thông tư đó nộp tại Ngân hàng Nhà nước chi nhánh Khu vực. Chưa xác lập được hiện nay cơ quan nào cấp giấy phép này.
Cá nhân nước ngoài được phép định cư ở Việt Nam được mang theo mọi loại vàng khi nhập cảnh, và phải khai báo nếu tổng khối lượng từ 300 g trở lên.
Mức phạt theo 2 nghị định
Quy định xử phạt trong lĩnh vực hải quan thay đổi từ ngày 1/7/2026, khi Nghị định 169/2026/NĐ-CP thay thế Nghị định 128/2020. Điều 11 của nghị định này xử phạt người không khai hoặc khai sai số vàng mang theo vượt mức quy định, theo các khung tính trên trị giá tang vật vi phạm:
- Khi xuất cảnh: Từ 1–3 triệu đồng nếu tang vật trị giá từ 5 triệu đồng đến dưới 30 triệu đồng, tới 30–50 triệu đồng nếu tang vật trị giá từ 100 triệu đồng trở lên và người vi phạm không bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
- Khi nhập cảnh: Từ 1–2 triệu đồng (từ 5 triệu đồng đến dưới 50 triệu đồng) tới 10–20 triệu đồng (từ 100 triệu đồng trở lên, cũng với điều kiện không bị truy cứu trách nhiệm hình sự).
Đây là mức phạt áp dụng với cá nhân. Trị giá tang vật được tính sau khi trừ trị giá số vàng không phải khai hải quan, và hàng hóa đã khai đúng quy định không bị tính vào.
Riêng Điều 14 xử phạt hành vi vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền mặt hoặc vàng qua biên giới, theo các khung từ 5–10 triệu đồng nếu tang vật trị giá dưới 30 triệu đồng tới 60–80 triệu đồng nếu từ 100 triệu đồng trở lên và không bị truy cứu trách nhiệm hình sự, kèm hình thức tịch thu tang vật. Các khung này là mức phạt đối với tổ chức; với cá nhân, mỗi khung giảm một nửa.
Một nghị định trong lĩnh vực ngân hàng đặt thêm một chế tài. Theo Nghị định 340/2025/NĐ-CP, có hiệu lực từ ngày 9/2/2026, hành vi mang theo vàng khi xuất cảnh, nhập cảnh không đúng quy định của pháp luật bị phạt 80–100 triệu đồng đối với cá nhân (Điều 28), trừ các hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan.
Cùng điều đó còn phạt 300–400 triệu đồng và tịch thu số vàng đối với hành vi xuất khẩu, nhập khẩu vàng nguyên liệu, vàng miếng không có giấy phép; quy định này có áp dụng với hành lý của người xuất nhập cảnh hay không thì văn bản không nói. Cả 2 điều của Nghị định 169 đều không nói vàng miếng không khai báo bị xử theo Điều 11, như hành vi không khai báo, hay theo Điều 14, như hành vi vận chuyển trái phép.
Bán thỏi vàng nước ngoài tại Việt Nam
Thỏi vàng mua ở nước ngoài có bán được tại Việt Nam hay không phụ thuộc vào quy định về kinh doanh vàng, vốn được Nghị định 232/2025 sửa đổi với hiệu lực từ ngày 10/10/2025. Nghị định này bãi bỏ quy định Nhà nước độc quyền sản xuất vàng miếng, xuất khẩu vàng nguyên liệu và nhập khẩu vàng nguyên liệu để sản xuất vàng miếng.
Doanh nghiệp và ngân hàng thương mại nay có thể được cấp Giấy phép sản xuất vàng miếng nếu đáp ứng các điều kiện, trong đó có việc đã có Giấy phép kinh doanh mua, bán vàng miếng và có vốn điều lệ từ 1.000 tỷ đồng trở lên (doanh nghiệp) hoặc từ 50.000 tỷ đồng trở lên (ngân hàng).
Hạn mức hàng năm và Giấy phép từng lần để nhập khẩu vàng miếng, vàng nguyên liệu, với hàm lượng từ 99,5% trở lên, chỉ được cấp cho chính các doanh nghiệp, ngân hàng được phép sản xuất vàng miếng nói trên; ngoài ra còn có giấy phép nhập khẩu vàng nguyên liệu riêng cho một số doanh nghiệp sản xuất vàng trang sức và doanh nghiệp khai thác vàng ở nước ngoài.
Thông tư 34/2025/TT-NHNN, đã được Thông tư 58/2025/TT-NHNN sửa đổi, quy định hồ sơ. Tất cả các cơ chế này đều dành cho doanh nghiệp hoặc ngân hàng.
Hoạt động mua, bán vàng miếng của các tổ chức, cá nhân chỉ được thực hiện tại các tổ chức tín dụng và doanh nghiệp được Ngân hàng Nhà nước cấp Giấy phép kinh doanh mua, bán vàng miếng, và các tổ chức tín dụng, doanh nghiệp được phép sản xuất, kinh doanh mua, bán vàng miếng chỉ được mua, bán loại vàng miếng mà pháp luật Việt Nam định nghĩa.
Vì vậy, tổ chức tín dụng hay doanh nghiệp được cấp phép không thể mua một thỏi vàng mang thương hiệu nước ngoài như mua vàng miếng. Trong các văn bản đã tra cứu, không văn bản nào nêu cơ chế để cá nhân nhập thỏi vàng mua tại Hoa Kỳ về và bán tại Việt Nam.
Cá nhân mua, bán vàng miếng với tổ chức không có giấy phép bị phạt cảnh cáo, và bị phạt 10–20 triệu đồng nếu tái phạm. Mọi giao dịch mua, bán vàng có giá trị từ 20 triệu đồng trong ngày trở lên của một khách hàng phải được thanh toán qua tài khoản thanh toán của khách hàng và của doanh nghiệp kinh doanh vàng.
Thu nhập từ chuyển nhượng vàng miếng là thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân theo Luật Thuế thu nhập cá nhân có hiệu lực từ ngày 1/7/2026, theo trích dẫn luật của Cổng Thông tin điện tử Chính phủ ngày 30/6/2026: Chính phủ quy định ngưỡng giá trị vàng miếng chịu thuế, thời điểm áp dụng thu và điều chỉnh thuế suất.
Bài viết đó cũng cho biết Bộ Tài chính đã báo cáo Chính phủ rằng dự thảo nghị định hướng dẫn chưa quy định chi tiết việc thu thuế đối với chuyển nhượng vàng miếng, và Ngân hàng Nhà nước đang sửa đổi, bổ sung Nghị định 24/2012 một lần nữa. Từ ngày 9/2 đến ngày 26/9/2026, Công báo không đăng văn bản nào của Chính phủ có chữ “vàng” trong tên.
Ở nước đến
Quy định của nước đến áp dụng riêng, và mỗi nước một khác.
- Hoa Kỳ. Cơ quan Hải quan và Bảo vệ Biên giới Hoa Kỳ (CBP) cho biết tiền xu vàng, huy chương vàng và vàng thỏi được phép mang vào nước này, trừ các mặt hàng có xuất xứ hoặc được mang từ Cuba, Iran, Myanmar và phần lớn Sudan. Người nhập cảnh hoặc xuất cảnh mang theo trên 10.000 USD tiền tệ hoặc công cụ tiền tệ phải khai báo trên tờ khai FinCEN 105; danh mục công cụ tiền tệ của CBP mở đầu bằng tiền xu và tiền giấy, và không nhắc đến vàng thỏi. Điều này cho thấy vàng thỏi nằm ngoài nghĩa vụ khai báo này; tiền xu vàng có được tính là tiền xu cho mục đích này hay không thì chưa được xác lập.
- Nhật Bản. Hải quan Nhật Bản yêu cầu khai vàng thỏi có hàm lượng từ 90% trở lên, nặng trên 1 kg, trên tờ khai phương tiện thanh toán, khi nhập cảnh hoặc xuất cảnh; vàng mang vào, dù số lượng bao nhiêu, đều phải được đánh dấu trên tờ khai hành lý. Thuế tiêu dùng ở mức chuẩn 10% áp dụng với hàng nhập khẩu nói chung, và Hải quan Nhật Bản mô tả hành vi buôn lậu vàng là cách trốn khoản thuế này, có thể bị phạt tù tới 5 năm, phạt tiền tới 5 lần giá trị số vàng, hoặc cả hai.
- Úc. Lực lượng Biên phòng Úc nêu rõ: “Không cần khai báo AUSTRAC [Australian Transaction Reports and Analysis Centre] đối với vàng thỏi.” Tiền xu kim loại quý được xếp là tiền pháp định có thể bị đưa vào diện khai báo vận chuyển qua biên giới theo yêu cầu của cơ quan này khi lô hàng, tính cả tiền mặt, vượt 10.000 AUD, và vàng đầu tư có hàm lượng từ 99,5% trở lên được miễn thuế nhập khẩu và thuế GST. Hướng dẫn này chủ yếu dành cho nhà nhập khẩu; chỉ dẫn duy nhất cho hành khách là điền chính xác Thẻ hành khách nhập cảnh (Incoming Passenger Card).
Tiền mặt theo quy định riêng: Theo Thông tư 15/2011/TT-NHNN, người xuất cảnh, nhập cảnh phải khai báo nếu mang ngoại tệ tiền mặt trên 5.000 USD hoặc ngoại tệ khác có giá trị tương đương, hoặc đồng Việt Nam tiền mặt trên 15 triệu đồng; hướng dẫn năm 2021 của Hải quan Việt Nam nhắc lại các ngưỡng này.
Việc mang tiền mặt và chuyển tiền định cư được trình bày trong một bài khác, còn chuỗi hồ sơ chứng minh khi chuyển vốn xuyên biên giới được phân tích trong một bài riêng.
Những điều bài viết này chưa xác lập
Chưa xác lập được hiện nay cơ quan nào của Ngân hàng Nhà nước cấp giấy phép mang vàng từ 1 kg, cũng như giấy tờ nước ngoài nào được coi là cho phép định cư ở nước ngoài, chẳng hạn giấy phép cư trú cấp theo diện đầu tư có được tính hay không.
Cũng chưa xác lập được mức phạt nào áp dụng khi người xuất nhập cảnh bị phát hiện mang vàng miếng không khai báo, hay vụ việc theo Điều 11 Nghị định 169 có dẫn đến tịch thu hay không (điều này không quy định tịch thu; Điều 14 có). Nghị định 169 dẫn chiếu các Điều 188 đến 200 của Bộ luật Hình sự và mức tang vật 100 triệu đồng, nhưng ngưỡng truy cứu trách nhiệm hình sự chưa được nghiên cứu.
Chưa tìm thấy văn bản nào cho phép hay cấm một cách rõ ràng việc cá nhân bán thỏi vàng nước ngoài tại Việt Nam cho bất kỳ ai, chẳng hạn bán dưới dạng vàng nguyên liệu cho doanh nghiệp kinh doanh vàng trang sức.
Chưa xác lập được từ sau ngày 30/6/2026 đã có quy định về ngưỡng, thời điểm áp dụng hay thuế suất đối với chuyển nhượng vàng miếng hay chưa, và các văn bản của Chính phủ đăng Công báo sau ngày 26/9/2026 chưa được rà hết. Cũng chưa kiểm tra thông tư năm 2022 sửa đổi điều khoản nào của Thông tư 15/2011.
Với Úc, trang của chính AUSTRAC, cơ quan tiếp nhận báo cáo giao dịch, không tải được (hết thời gian chờ) khi truy cập, và quy định năm 2026 của Nhật Bản về chứng từ đối với vàng nhập khẩu chưa được phân tích cho trường hợp hành khách.
Ảnh đầu bài: Magnific.
The Legation Times biên soạn nội dung từ tài liệu đã công bố; nội dung tại đây không phải tư vấn pháp lý, tư vấn thuế hay khuyến nghị đầu tư. Trường hợp quý độc giả phát hiện ra sai sót, kính mời quý độc giả gửi yêu cầu đính chính. Với trường hợp liên quan đến quyền sử dụng nội dung, hãy thực hiện gửi yêu cầu gỡ bỏ.