Chuyển vốn xuyên biên giới cho hồ sơ đầu tư: Chuỗi chứng từ quyết định

Dưới 7 tỷ đồng, dự án không thuộc ngành có điều kiện chỉ cần đăng ký ngoại hối; theo Thông tư số 20/2022/TT-NHNN, tiền chuyển để trả chi phí làm hồ sơ định cư không bao gồm giá trị đầu tư.
Việt Nam đã thiết lập lại khuôn khổ đầu tư ra nước ngoài trong năm 2026. Luật Đầu tư số 143/2025/QH15 có hiệu lực chung từ ngày 1/3/2026, tiếp đến là Nghị định số 103/2026/NĐ-CP từ ngày 3/4 và Thông tư số 34/2026/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam từ ngày 31/7. Các văn bản này quy định ai được chuyển vốn đầu tư ra nước ngoài, ngưỡng vốn nào phải có giấy chứng nhận và giới hạn chuyển tiền trước khi có giấy chứng nhận và xác nhận đăng ký giao dịch ngoại hối.
Hai khuôn khổ chuyển tiền với căn cứ xác định số tiền khác nhau
Các văn bản được đối chiếu trong bài quy định 2 khuôn khổ chuyển tiền từ Việt Nam ra nước ngoài. Hai khuôn khổ này không thể dùng thay thế cho nhau.
Khuôn khổ thứ nhất là đầu tư ra nước ngoài. Điều 1 Luật Đầu tư điều chỉnh hoạt động đầu tư kinh doanh từ Việt Nam ra nước ngoài; Nghị định số 103/2026/NĐ-CP quy định chi tiết đối với hoạt động đầu tư ra nước ngoài nhằm mục đích kinh doanh.
Khoản 2 Điều 1 loại trừ khỏi phạm vi của nghị định 2 nhóm hoạt động. Nhóm thứ nhất là đầu tư thông qua mua, bán chứng khoán hoặc giấy tờ có giá khác, hoặc thông qua quỹ đầu tư chứng khoán và các định chế tài chính trung gian khác ở nước ngoài. Nhóm thứ hai là hoạt động dầu khí.
Luật Đầu tư có hiệu lực từ ngày 1/3/2026, với các ngoại lệ về thời điểm áp dụng. Điều 7 và danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện tại Phụ lục IV có hiệu lực từ ngày 1/7/2026; riêng khoản 3 Điều 50 có hiệu lực từ ngày 1/1/2026.
Khuôn khổ thứ hai là chế độ chuyển tiền một chiều theo Pháp lệnh Ngoại hối. Khoản 2 Điều 7 Nghị định số 70/2014/NĐ-CP liệt kê 7 mục đích mà công dân Việt Nam được mua, chuyển hoặc mang ngoại tệ ra nước ngoài.
- Học tập, chữa bệnh.
- Công tác, du lịch, thăm viếng.
- Trả các loại phí, lệ phí cho nước ngoài.
- Trợ cấp cho thân nhân ở nước ngoài.
- Thừa kế.
- Định cư ở nước ngoài.
- Chuyển tiền một chiều cho các nhu cầu hợp pháp khác.
Thông tư số 20/2022/TT-NHNN, có hiệu lực từ ngày 15/2/2023, quy định căn cứ xác định số tiền cho 6 trong 7 mục đích trên. Với định cư ở nước ngoài, khoản 6 Điều 13 đưa ra 2 căn cứ riêng.
Đoạn thứ nhất xác định số tiền được chuyển theo giá trị tài sản của người đi định cư hình thành tại Việt Nam trước khi người đó có quốc tịch nước ngoài hoặc trước khi được phép cư trú ở nước ngoài để định cư theo quy định của nước sở tại.
Đoạn thứ hai áp dụng cho tiền chuyển để thanh toán chi phí làm hồ sơ định cư, với mức chuyển căn cứ vào chi phí do phía nước ngoài thông báo. Theo quy định này, chi phí đó không bao gồm giá trị khoản đầu tư cần có để được mang quốc tịch nước ngoài hoặc được định cư ở nước ngoài.
Hai đoạn quy định có chức năng pháp lý khác nhau. Đoạn thứ nhất ấn định mốc thời gian và nơi hình thành tài sản; đoạn thứ hai loại một khoản thanh toán khỏi căn cứ tính chi phí. Điểm chung là cả hai đều lấy việc đã có quốc tịch nước ngoài hoặc đã được cho phép định cư làm căn cứ xác định phạm vi áp dụng.
Với mục đích thứ bảy — chuyển tiền một chiều cho các nhu cầu hợp pháp khác — Thông tư số 20/2022/TT-NHNN không quy định căn cứ xác định số tiền.
Quy mô vốn và tỷ giá quyết định yêu cầu cấp giấy chứng nhận
Theo khoản 1 Điều 17 Nghị định số 103/2026/NĐ-CP, dự án phải có Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài nếu vốn đầu tư ra nước ngoài từ 7 tỷ đồng trở lên hoặc thuộc ngành, nghề đầu tư ra nước ngoài có điều kiện.
Với dự án dưới 7 tỷ đồng và không thuộc các ngành, nghề này, khoản 1 Điều 18 bỏ thủ tục cấp giấy chứng nhận. Nhà đầu tư kê khai dự án trên Hệ thống thông tin quốc gia về đầu tư, nhận mã hồ sơ do hệ thống cấp rồi thực hiện đăng ký giao dịch ngoại hối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
Theo khoản 2 Điều 17, dự án có vốn từ 1.600 tỷ đồng trở lên phải được Thủ tướng Chính phủ chấp thuận trước khi Bộ Tài chính cấp giấy chứng nhận. Quy trình này cũng áp dụng với dự án đề xuất cơ chế hỗ trợ đặc biệt, bất kể quy mô vốn.
Giá trị quy đổi sang đồng Việt Nam không do nhà đầu tư tự lựa chọn cách tính. Khoản 5 Điều 6 yêu cầu sử dụng tỷ giá bán ngoại tệ của tổ chức tín dụng được phép tại ngày nộp hồ sơ. Vì vậy, dự án có thể vượt ngưỡng do biến động tỷ giá, thay vì do thay đổi mức đầu tư.
Điều kiện ngành nghề quyết định ai được đứng tên đầu tư
Khoản 1 Điều 41 Luật Đầu tư quy định 5 ngành, nghề đầu tư ra nước ngoài có điều kiện.
- Ngân hàng.
- Bảo hiểm.
- Chứng khoán.
- Báo chí, phát thanh, truyền hình.
- Kinh doanh bất động sản.
Riêng kinh doanh bất động sản, khoản 3 Điều 11 Nghị định số 103/2026/NĐ-CP yêu cầu nhà đầu tư phải là doanh nghiệp thành lập theo Luật Doanh nghiệp.
Khoản 5 Điều 5 cho phép công dân Việt Nam đứng tên đầu tư ra nước ngoài, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 17 Luật Doanh nghiệp. Khoản 2 Điều 14 cũng cho phép cá nhân và hộ kinh doanh sử dụng văn bản đăng ký đầu tư thay cho quyết định đầu tư của doanh nghiệp. Tuy nhiên, với dự án kinh doanh bất động sản ở nước ngoài, yêu cầu tại khoản 3 Điều 11 không cho phép cá nhân đứng tên đầu tư.
Khoản tiền được chuyển trước khi có giấy chứng nhận
Khoản 1 Điều 32 cho phép chuyển vốn đầu tư ra nước ngoài khi đồng thời đáp ứng 3 điều kiện.
- Đã được cấp giấy chứng nhận nếu dự án thuộc diện phải có giấy chứng nhận.
- Hoạt động đầu tư đã được nước tiếp nhận chấp thuận hoặc cấp phép, hoặc nhà đầu tư có tài liệu chứng minh quyền đầu tư tại nước đó.
- Đã mở tài khoản vốn đầu tư ra nước ngoài tại 1 tổ chức tín dụng được phép; theo Điều 31, mọi giao dịch chuyển tiền ra và vào đều phải đi qua tài khoản này.
Khoản 2 Điều 13 Thông tư số 34/2026/TT-NHNN bổ sung một yêu cầu về trình tự. Nhà đầu tư phải được xác nhận đăng ký giao dịch ngoại hối lần đầu trước khi chuyển bất kỳ khoản vốn đầu tư nào ra nước ngoài.
Trước thời điểm đó, khoản 3 Điều 32 cho phép chuyển tiền để hình thành dự án, phục vụ các hoạt động sau.
- Nghiên cứu thị trường, khảo sát thực địa.
- Thẩm định và thuê tư vấn.
- Thành lập văn phòng liên lạc.
- Đặt cọc, ký quỹ phục vụ đấu thầu và mua lại.
- Đàm phán hợp đồng.
- Mua hoặc thuê tài sản phục vụ việc hình thành dự án.
Khoản 5 Điều 32 giới hạn tổng số tiền này ở mức 5% vốn đầu tư ra nước ngoài, đồng thời không quá 300.000 đô-la Mỹ, trừ trường hợp Chính phủ có quy định khác. Khoản tiền chuyển trước được tính vào tổng vốn đầu tư ra nước ngoài, không phải khoản riêng ngoài vốn.
Thông tư số 34/2026/TT-NHNN thay thế Thông tư số 12/2016/TT-NHNN từ ngày 31/7/2026, yêu cầu chuyển các khoản tiền chuẩn bị dự án qua tài khoản trước đầu tư, tức tài khoản mở để thực hiện những giao dịch này. Tài khoản được mở riêng cho từng dự án. Nếu có nhiều nhà đầu tư cùng tham gia, mỗi nhà đầu tư mở 1 tài khoản tại cùng một tổ chức tín dụng được phép.
Tài khoản trước đầu tư không chỉ dùng cho giai đoạn chuẩn bị. Khoản 7 Điều 6 yêu cầu tiếp tục sử dụng tài khoản này làm tài khoản vốn đầu tư ra nước ngoài. Nếu mở thêm tài khoản vốn bằng đồng tiền khác, nhà đầu tư phải mở tại cùng tổ chức tín dụng được phép và thực hiện đăng ký.
Hồ sơ lưu ngày cấp văn bản và từng lần chuyển tiền
Cả thủ tục có giấy chứng nhận lẫn thủ tục không cần giấy chứng nhận đều tạo ra hồ sơ ghi nhận thông tin và các mốc thời gian cụ thể.
Khoản 4 Điều 15 Nghị định số 103/2026/NĐ-CP và điểm b khoản 1 Điều 15 Thông tư số 34/2026/TT-NHNN đều yêu cầu văn bản của cơ quan thuế xác nhận nhà đầu tư đã hoàn thành nghĩa vụ thuế. Văn bản phải được lập trong vòng 3 tháng trước ngày nộp hồ sơ.
Theo khoản 3 Điều 14 của thông tư, ngân hàng phải cấp văn bản xác nhận trong vòng 10 ngày làm việc trước ngày nộp hồ sơ. Văn bản ghi mã dự án, số và tên tài khoản, loại ngoại tệ, ngày mở tài khoản, cùng ngày và số tiền của từng lần chuyển tiền trước đầu tư.
Sau đó, khoản 2 Điều 35 của nghị định yêu cầu báo cáo định kỳ 6 tháng, nộp trước ngày 20 của tháng tiếp theo kỳ báo cáo, và báo cáo hằng năm, nộp trước ngày 15/2.
Trong báo cáo tháng 11/2023, Lực lượng Đặc nhiệm Tài chính (FATF) và Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) nhận định các chương trình quốc tịch theo đầu tư và chương trình cư trú theo đầu tư thu hút tội phạm và quan chức tham nhũng. Báo cáo đưa ra các biện pháp thẩm định chuyên sâu — kiểm tra kỹ thông tin và hồ sơ người nộp đơn — cùng các biện pháp bảo đảm minh bạch và liêm chính dành cho những quốc gia vận hành chương trình.
Cơ quan phụ trách từng chương trình có những yêu cầu gì đối với người nộp đơn Việt Nam là câu hỏi riêng mà các nguồn được đối chiếu trong bài không trả lời.
Thủ tục tại Việt Nam tạo ra các chứng từ và thông tin trong phạm vi hẹp, gắn với những mốc thời gian xác định. Hồ sơ ghi nhận tài khoản tại một ngân hàng được nêu tên, văn bản xác nhận hoàn thành nghĩa vụ thuế có ngày cấp và văn bản xác nhận của ngân hàng ghi ngày và số tiền của từng lần chuyển tiền trước đầu tư.
Những điểm các văn bản chưa giải quyết
Các văn bản chưa trả lời liệu việc mua bất động sản để đáp ứng điều kiện cấp phép cư trú có phải là kinh doanh bất động sản theo điểm đ khoản 1 Điều 41 hay không. Cách xác định hoạt động này quyết định cá nhân có được đứng tên đầu tư hay không.
Điểm g khoản 2 Điều 7 Nghị định số 70/2014/NĐ-CP, về chuyển tiền một chiều cho các nhu cầu hợp pháp khác, còn để ngỏ một vấn đề khác. Thông tư số 20/2022/TT-NHNN không quy định căn cứ xác định số tiền cho mục đích này.
Khoản 4 Điều 7 Nghị định số 70/2014/NĐ-CP giao tổ chức tín dụng được phép kiểm tra chứng từ và đánh giá nhu cầu thực tế, hợp lý của từng giao dịch chuyển tiền. Thẩm quyền đó không đồng nghĩa với việc phạm vi các nhu cầu thuộc nhóm này đã được xác định rõ.
Điểm chưa rõ thứ ba nằm trong Thông tư số 34/2026/TT-NHNN.
Khoản 6 Điều 6 yêu cầu chuyển phần tiền trước đầu tư chưa sử dụng về nước trong 60 ngày làm việc, tính từ ngày có văn bản từ chối của nước tiếp nhận đầu tư hoặc của Việt Nam. Quy định áp dụng cùng thời hạn này khi dự án không hình thành. Tuy nhiên, một dự án không hình thành có thể không có văn bản từ chối để làm mốc tính thời hạn.
Ở giai đoạn thu hồi lợi nhuận, thời hạn đã được xác định. Theo khoản 1 Điều 34, lợi nhuận từ dự án đầu tư ra nước ngoài phải được chuyển về nước trong 12 tháng kể từ ngày được chia, trừ trường hợp giữ lại để tái đầu tư theo Điều 33.
Nếu kéo dài thời hạn thêm tối đa 12 tháng, nhà đầu tư phải thông báo bằng văn bản cho Bộ Tài chính và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trước khi thời hạn ban đầu kết thúc. Khi không thuộc trường hợp được giữ lại lợi nhuận và không có thông báo gia hạn, việc chuyển lợi nhuận về nước quá hạn là hành vi vi phạm hành chính, không chỉ là thiếu sót về hồ sơ.
Bài viết lại ngày 9/9/2026. Bản trước không dẫn một đạo luật, nghị định hay thông tư nào, không nêu một ngày hiệu lực nào, và kết bằng lời khuyên độc giả tự đi hỏi cơ quan quản lý ngoại hối và ngân hàng phục vụ. Bản này nêu tên văn bản, ngưỡng số và ngày có hiệu lực.
Cập nhật ngày 09/09/2026 — Viết lại ngày 9/9/2026, bổ sung tên văn bản, ngưỡng số và ngày có hiệu lực.
The Legation Times biên soạn nội dung từ tài liệu đã công bố; nội dung tại đây không phải tư vấn pháp lý, tư vấn thuế hay khuyến nghị đầu tư. Trường hợp quý độc giả phát hiện ra sai sót, kính mời quý độc giả gửi yêu cầu đính chính. Với trường hợp liên quan đến quyền sử dụng nội dung, hãy thực hiện gửi yêu cầu gỡ bỏ.