Bảo hiểm y tế ở Nhật Bản và Đức là yếu tố xét cư trú của nhà sáng lập

Khi gia hạn diện quản lý kinh doanh, Nhật Bản kiểm tra bảo hiểm y tế, hưu trí của công ty; từ tháng 6/2027 dự kiến kiểm tra việc đóng bảo hiểm y tế quốc dân. Ở Đức, giấy phép cư trú thường cần bảo hiểm đầy đủ.
Tại Nhật Bản, một công ty là nơi làm việc thuộc diện bắt buộc tham gia bảo hiểm y tế dành cho người làm công, kể cả khi chỉ có chủ sở hữu làm việc tại đó; theo một công văn của Bộ Y tế Nhật Bản, giám đốc được công ty trả thù lao để điều hành thì được bảo hiểm qua công ty, không qua Bảo hiểm Y tế Quốc dân do chính quyền địa phương quản lý.
Cơ quan xuất nhập cảnh kiểm tra việc công ty tham gia và đóng phí bảo hiểm khi gia hạn tư cách lưu trú diện quản lý kinh doanh. Tại Đức, người tự doanh nhìn chung không thuộc diện bắt buộc tham gia bảo hiểm y tế luật định, và giấy phép cư trú theo nguyên tắc chung yêu cầu bảo hiểm y tế đầy đủ.
So sánh 2 hệ thống
| Nhà sáng lập được bảo hiểm ở đâu | Chi phí chính (năm 2026) | Liên hệ với giấy phép cư trú | |
|---|---|---|---|
| Nhật Bản | Bảo hiểm của công ty dành cho người làm công nếu nhận thù lao với tư cách giám đốc, kể cả khi công ty chỉ có 1 người; Bảo hiểm Y tế Quốc dân của địa phương cho chủ hộ kinh doanh cá thể và những cư dân khác không được bảo hiểm qua nơi làm việc | Bảo hiểm Y tế Quốc dân: Mỗi địa phương tự định mức theo thu nhập, mức trần cho mỗi hộ là 1,13 triệu yên mỗi năm. Kyokai Kenpo tại Tokyo: Tỷ lệ phí 9,85%, cộng 1,62% (từ 40 đến 64 tuổi) và 0,23% cho khoản hỗ trợ nuôi dạy trẻ. Người bệnh trả 30% chi phí từ tuổi đi học đến 69 tuổi | Khi gia hạn diện quản lý kinh doanh, cơ quan xuất nhập cảnh kiểm tra việc công ty tham gia và đóng phí bảo hiểm (từ ngày 16/10/2025); dự kiến kiểm tra điện tử việc đóng phí Bảo hiểm Y tế Quốc dân với mọi tư cách lưu trú từ tháng 6/2027 |
| Đức | Mọi cư dân bắt buộc có bảo hiểm y tế; người tự doanh nhìn chung không thuộc diện bắt buộc tham gia bảo hiểm y tế luật định; do đó nhà sáng lập mới đến thường mua bảo hiểm tư nhân | Bảo hiểm luật định: 14,6% (14,0% nếu không kèm quyền hưởng trợ cấp ốm đau) cộng phần phí bổ sung của từng quỹ, bình quân 2,9%, và 3,6% cho bảo hiểm chăm sóc dài hạn (4,2% với người không có con), tính trên thu nhập tối đa 69.750 euro mỗi năm. Bảo hiểm tư nhân: Không có số liệu chính thức | Bảo hiểm y tế đầy đủ là một phần của điều kiện bảo đảm sinh kế; bảo hiểm luật định luôn được coi là đầy đủ (quy định hành chính liên bang năm 2009); Frankfurt và Berlin yêu cầu bảo hiểm tư nhân tương đương, có xác nhận của công ty bảo hiểm |
Nhật Bản: Công ty 1 người vẫn là nơi làm việc thuộc diện bắt buộc
Theo Luật Bảo hiểm Y tế Quốc dân, mọi người có địa chỉ cư trú tại Nhật Bản đều tham gia Bảo hiểm Y tế Quốc dân (National Health Insurance – NHI) do các tỉnh cùng chính quyền địa phương quản lý, trừ một số trường hợp, trong đó có người tham gia bảo hiểm dành cho người làm công và người phụ thuộc của họ.
Quận Shinjuku ở Tokyo cho biết người nước ngoài dưới 75 tuổi, có phiếu cư trú và có tư cách lưu trú trên 3 tháng phải tham gia NHI, trừ khi đã được bảo hiểm qua nơi làm việc hoặc thuộc trường hợp được miễn khác.
Cơ quan Hưu trí Nhật Bản cho biết mọi cơ sở kinh doanh của pháp nhân, kể cả nơi chỉ có chủ sở hữu làm việc, đều là nơi làm việc thuộc diện bắt buộc tham gia cả hai loại bảo hiểm dành cho người làm công là hưu trí và y tế.
Theo công văn của Bộ Y tế, Lao động và Phúc lợi ngày 18/3/2026, được sửa đổi vào tháng 9 để làm rõ cách áp dụng, thành viên ban điều hành công ty, kể cả giám đốc đại diện, nếu nhận thù lao từ công ty cho công việc của mình thì được bảo hiểm với tư cách người làm công của công ty; tiêu chí là người đó trên thực tế có thường xuyên tham gia điều hành hay không, và có được trả thù lao định kỳ cho việc đó hay không.
Quận Shinjuku xếp người làm việc tại một pháp nhân hoặc điều hành pháp nhân đó, cùng người phụ thuộc của họ, vào nhóm không được tham gia NHI.
Điều này cho thấy người mang tư cách quản lý kinh doanh mà điều hành công ty và nhận lương từ công ty thì được bảo hiểm qua chế độ dành cho người làm công của công ty đó chứ không qua NHI của địa phương; các thành viên gia đình đủ điều kiện được tính là người phụ thuộc.
NHI vẫn là chế độ dành cho chủ hộ kinh doanh cá thể: Cơ quan Quản lý xuất nhập cảnh và lưu trú Nhật Bản yêu cầu chủ hộ kinh doanh cá thể nào không có nghĩa vụ tham gia bảo hiểm dành cho người làm công phải giải trình vì sao cơ sở kinh doanh không phải nơi làm việc thuộc diện bắt buộc, và nộp giấy tờ chứng minh chính người đó đã tham gia NHI.
Chi phí tại Nhật Bản
Phí NHI do từng địa phương ấn định theo thu nhập của hộ gia đình. Tại Quận Shinjuku, trong năm tài khóa 2026, phí gồm 4 phần, mỗi phần là một khoản cố định theo đầu người cộng một tỷ lệ trên cơ sở tính phí của hộ, tức tổng thu nhập năm 2025 của các thành viên sau khi trừ khoản giảm trừ cơ bản 430.000 yên cho mỗi người (áp dụng với tổng thu nhập không quá 24 triệu yên).
Các phần đó gồm: Phần chi phí y tế, 47.600 yên mỗi thành viên cộng 7,51%; phần hỗ trợ chế độ y tế cho người cao tuổi giai đoạn sau, 17.600 yên cộng 2,80%; phần chăm sóc dài hạn, chỉ áp dụng với thành viên từ 40 đến 64 tuổi, 17.800 yên cộng 2,43%; và phần mới cho khoản hỗ trợ nuôi dạy trẻ, 1.873 yên với mỗi thành viên từ 18 tuổi trở lên cộng 0,27%.
Mức trần toàn quốc giới hạn tổng 4 phần ở mức 1,13 triệu yên mỗi năm cho một hộ. Từ năm tài khóa 2026, địa phương nào muốn đều có thể yêu cầu người mới đến đóng trước phí của năm đầu tiên.
Với công ty tham gia Hiệp hội Bảo hiểm Y tế Nhật Bản (Kyokai Kenpo) tại Tokyo, tỷ lệ phí chung là 9,85% từ tháng 3/2026, cùng tỷ lệ phí chăm sóc dài hạn 1,62% với thành viên từ 40 đến 64 tuổi và tỷ lệ 0,23% cho khoản hỗ trợ nuôi dạy trẻ từ tháng 4/2026.
Ở cả 2 chế độ, người bệnh trả 30% chi phí điều trị từ tuổi đi học đến hết tháng tròn 70 tuổi và 20% trước tuổi học bắt buộc, với mức trần theo tháng.
Theo Bộ Y tế, sau khi Thủ tướng ngày 7/3/2025 hoãn đợt tăng trần dự kiến vào tháng 8/2025, các mức trần đã được điều chỉnh theo mức tăng chi phí y tế từ ngày 1/8/2026 và có thêm một mức trần theo năm; giai đoạn thứ hai bắt đầu từ tháng 8/2027.
Với người bệnh dưới 70 tuổi có thu nhập khoảng 3,7 triệu đến 7,7 triệu yên, mức trần hiện là 85.800 yên mỗi tháng cộng 1% phần chi phí vượt 286.000 yên (trước đây là 80.100 yên cộng 1%), và 530.000 yên mỗi năm; với thu nhập từ khoảng 11,6 triệu yên, mức trần là 270.300 yên cộng 1% phần vượt 901.000 yên, và 1,68 triệu yên mỗi năm.
Nhật Bản: Khâu kiểm tra khi gia hạn hiện nay và khâu dự kiến từ năm 2027
Từ khi quy định về diện quản lý kinh doanh thay đổi ngày 16/10/2025, Cơ quan Quản lý xuất nhập cảnh và lưu trú kiểm tra ở mỗi lần gia hạn xem doanh nghiệp đã tham gia và đóng phí bảo hiểm y tế, bảo hiểm hưu trí dành cho người làm công hay chưa, cùng với tình hình bảo hiểm lao động và các khoản thuế mà doanh nghiệp phải nộp.
Trước câu hỏi liệu hồ sơ gia hạn có thể bị từ chối khi tình hình kinh doanh và thuế không có gì sai sót hay không, phần hỏi đáp của cơ quan này cho biết vấn đề trong việc tham gia hoặc đóng bảo hiểm xã hội bị tính là điểm bất lợi cho người nộp hồ sơ, và đã có trường hợp không được gia hạn.
Người đã mang tư cách này từ trước sẽ không bị từ chối trước ngày 16/10/2028 chỉ vì chưa đáp ứng tiêu chuẩn kinh doanh mới, dù cơ quan này vẫn cân nhắc tình hình kinh doanh và khả năng đáp ứng tiêu chuẩn đó; không có cơ chế chuyển tiếp tương tự được nêu cho khâu kiểm tra nghĩa vụ thuế và phí công.
Điều này cho thấy vấn đề về bảo hiểm không được hưởng thời gian ân hạn như vậy. Ngưỡng 30 triệu yên của diện quản lý kinh doanh được trình bày trong một bài riêng.
Bước tiếp theo sẽ áp dụng với mọi cư dân nước ngoài tham gia NHI. Ngày 23/1/2026, chính phủ quyết định rằng từ tháng 6/2027, cơ quan xuất nhập cảnh cần có khả năng kiểm tra điện tử việc đóng phí NHI với mọi tư cách lưu trú, và sẽ xem xét việc dùng dữ liệu này khi xét nhập cảnh và xét lưu trú.
Theo kế hoạch của Bộ Y tế, các địa phương sẽ cung cấp dữ liệu đóng phí của 5 năm theo từng tháng để cơ quan tra cứu khi người nộp hồ sơ đồng ý; người còn nợ phí phải nộp, hoặc cam kết nộp theo từng đợt, và xuất trình giấy chứng nhận, nếu không thì về nguyên tắc sẽ không được gia hạn.
Như vậy, cơ chế trao đổi dự kiến sẽ bao gồm mọi tháng mà nhà sáng lập hoặc thành viên gia đình tham gia NHI trong 5 năm đó.
Tính đến tháng 7/2026, các hệ thống vẫn đang được xây dựng, và dự thảo kế hoạch của cơ quan xuất nhập cảnh tháng 9/2026 bổ sung dữ liệu đóng phí hưu trí quốc dân.
Các biện pháp này chưa có hiệu lực; theo một cơ chế tự nguyện mà Văn phòng Nội các mô tả năm 2025, tính đến tháng 6/2025 có 68 địa phương đã chuyển cho cơ quan xuất nhập cảnh thông tin về các khoản nợ phí NHI quá hạn trên 1 năm không thu hồi được, để dùng khi xét lưu trú.
Đức: Bảo hiểm là bắt buộc, bảo hiểm luật định thì không
Theo Điều 193 Luật Hợp đồng Bảo hiểm, mọi cư dân tại Đức phải mua và duy trì bảo hiểm y tế với một công ty bảo hiểm được cấp phép tại Đức, chi trả ít nhất cho điều trị ngoại trú và nội trú, với mức miễn thường không quá 5.000 euro mỗi năm; thành viên bảo hiểm y tế luật định được miễn, và người mua bảo hiểm muộn hơn 1 tháng kể từ khi phát sinh nghĩa vụ phải trả phụ phí.
Người lấy tự doanh làm nghề chính không thuộc diện bắt buộc tham gia bảo hiểm y tế luật định với tư cách người làm công, theo Điều 5 Quyển V Bộ luật Xã hội.
Điều này cũng có một quy định bao quát dành cho cư dân không có bảo hiểm nào khác, nhưng quy định đó loại trừ nhóm tự doanh và chỉ áp dụng với công dân các nước không thuộc Liên minh châu Âu (EU), Khu vực Kinh tế châu Âu hay Thụy Sĩ nếu họ có giấy phép thời hạn trên 12 tháng không gắn với nghĩa vụ bảo đảm sinh kế.
Theo khoản 1 Điều 5 Luật Cư trú, trình bày ở phần dưới, việc cấp giấy phép cư trú theo nguyên tắc chung yêu cầu sinh kế được bảo đảm. Điều này cho thấy giấy phép tự doanh theo Điều 21 của Luật này có gắn với nghĩa vụ đó.
Tư cách thành viên tự nguyện theo Điều 9 chủ yếu dựa vào thời gian đã tham gia bảo hiểm luật định trước đó, tức ít nhất 24 tháng trong 5 năm trước khi rời diện bắt buộc hoặc 12 tháng liên tục ngay trước đó; một lối khác – việc làm đầu tiên tại Đức với thu nhập trên 77.400 euro mỗi năm (mức năm 2026) – chỉ dành cho người làm công.
Xét chung, các quy định này cho thấy nhà sáng lập đến Đức mà chưa từng có bảo hiểm tại đây thường mua bảo hiểm tư nhân.
Để so sánh, năm 2026 thành viên bảo hiểm luật định đóng 14,6% thu nhập tính phí, hoặc 14,0% nếu không kèm quyền hưởng trợ cấp ốm đau, cộng phần phí bổ sung do từng quỹ ấn định, bình quân 2,9%. Bảo hiểm chăm sóc dài hạn thêm 3,6%, hoặc 4,2% với thành viên trên 23 tuổi không có con.
Phí được tính trên thu nhập tối đa 69.750 euro mỗi năm. Chưa tìm thấy số liệu chính thức về phí bảo hiểm tư nhân.
Đức: Cơ quan quản lý người nước ngoài chấp nhận những gì
Theo khoản 1 Điều 5 Luật Cư trú, việc cấp giấy phép cư trú theo nguyên tắc chung yêu cầu sinh kế được bảo đảm, và khoản 3 Điều 2 chỉ coi sinh kế là được bảo đảm khi người đó có cả bảo hiểm y tế đầy đủ mà không phải dùng đến ngân sách công. Bản thân Điều 21 không nhắc đến bảo hiểm y tế; yêu cầu này đến từ các quy định chung nói trên.
Quy định hành chính liên bang hướng dẫn thi hành Luật Cư trú, ban hành năm 2009, nêu rằng tư cách thành viên bảo hiểm luật định luôn được coi là đầy đủ mà không cần kiểm tra thêm, rằng bảo hiểm tư nhân phải được kiểm tra kỹ theo từng trường hợp, và rằng trong các trường hợp theo Điều 21 có thể yêu cầu chứng minh bảo hiểm chăm sóc dài hạn.
Frankfurt và Berlin, 2 cơ quan quản lý người nước ngoài được xem xét, nêu cụ thể các yêu cầu này.
Frankfurt yêu cầu bảo hiểm tư nhân tương đương bảo hiểm luật định về loại hình và phạm vi, không có nhiều điều khoản loại trừ, không giới hạn chi phí được hoàn trả, và không có điều khoản chấm dứt bảo hiểm khi đến một độ tuổi nhất định, khi ngừng hoạt động kinh doanh, khi thay đổi mục đích cư trú hoặc khi mất tư cách cư trú hợp pháp.
Cơ quan này coi biểu phí cơ bản của bảo hiểm tư nhân luôn là đầy đủ, yêu cầu văn bản xác nhận của công ty bảo hiểm theo khoản 2a Điều 257 Quyển V Bộ luật Xã hội, cho biết bảo hiểm du lịch tuy đủ để nhập cảnh nhưng không đáp ứng yêu cầu này, và không cấp giấy phép cư trú nếu không có giấy tờ chứng minh.
Trang của Berlin về giấy phép tự doanh yêu cầu bảo hiểm luật định hoặc bảo hiểm tư nhân tương đương tại Đức, và cho biết bảo hiểm y tế nước ngoài nhìn chung là không đủ. Giấy phép tự doanh theo Điều 21 được trình bày trong một bài riêng.
Bảo hiểm tư nhân có một hệ quả về sau. Theo khoản 3a Điều 6, người thuộc diện bắt buộc tham gia sau khi đã qua 55 tuổi vẫn được miễn nếu trong 5 năm trước đó không tham gia bảo hiểm luật định và trong ít nhất một nửa thời gian ấy được miễn, được giải trừ nghĩa vụ hoặc tự doanh.
Điều này cho thấy nhà sáng lập vẫn tham gia bảo hiểm tư nhân sau 55 tuổi nhìn chung sẽ không quay lại được bảo hiểm luật định bằng cách nhận một công việc làm thuê.
Những điều bài viết này chưa xác lập
Tại Nhật Bản, chưa xác lập được liệu giám đốc không nhận lương, hoặc chỉ nhận mức lương tượng trưng, có được bảo hiểm qua công ty hay không, cũng như tỷ lệ phí của chế độ dành cho người làm công được tính trên khoản thu nhập nào và phần phí được chia giữa công ty và giám đốc ra sao.
Cũng chưa xác lập được phí NHI năm đầu của người mới đến được tính thế nào khi năm trước chưa có thu nhập tại Nhật Bản, hay khoản nào sẽ bị coi là nợ phí nếu cơ chế trao đổi dữ liệu dự kiến năm 2027 đi vào vận hành.
Tại Đức, chưa tìm thấy quy định liên bang nào về vấn đề này mới hơn văn bản năm 2009, và chi phí bảo hiểm tư nhân chưa được xác lập. Trường hợp Việt Nam chưa được xác lập.
Cùng câu hỏi này đối với Hoa Kỳ, Canada và Úc sẽ được xem xét trong một bài riêng; tư cách cư trú và chi trả y tế tại Bồ Đào Nha, Dubai và Singapore đã được so sánh trong một bài tháng 8.
Ảnh đầu bài: Magnific.
The Legation Times biên soạn nội dung từ tài liệu đã công bố; nội dung tại đây không phải tư vấn pháp lý, tư vấn thuế hay khuyến nghị đầu tư. Trường hợp quý độc giả phát hiện ra sai sót, kính mời quý độc giả gửi yêu cầu đính chính. Với trường hợp liên quan đến quyền sử dụng nội dung, hãy thực hiện gửi yêu cầu gỡ bỏ.