Síp: Hai diện cùng tên giấy phép, thu nhập chênh hơn năm lần

Đường dạo ven biển Limassol. Cộng hoà Síp đặt hai sàn thu nhập khác nhau cho cùng một tên gọi giấy phép, và hai con số ấy nằm ở hai loại văn bản khác nhau.
Nhóm F yêu cầu thu nhập bảo đảm ít nhất 9.568 euro mỗi năm, con số mà cơ quan phụ trách đến nay vẫn in kèm bảng Síp; diện ở điều kế tiếp yêu cầu ít nhất 50.000 euro thu nhập và 300.000 euro vốn.
Síp cấp một thứ giấy tờ gọi là giấy phép nhập cư, và có hai diện dẫn tới cái tên ấy. Một diện là một nhóm trong danh mục gồm sáu nhóm, dành cho người có thu nhập bảo đảm từ nước ngoài. Diện còn lại dựa trên chính sách do một bộ trưởng ban hành, dành cho người bỏ vốn đầu tư. Mỗi diện tự đặt một sàn thu nhập, và hai sàn ấy chênh nhau hơn năm lần.
Danh mục quy chế ghi gì, bằng đồng tiền nào
Điều 5 của Quy chế về người nước ngoài và nhập cư (Regulation 5 of the Aliens and Immigration Regulations) chia giấy phép nhập cư thành sáu nhóm, ký hiệu từ A đến F. Các nhóm A, B và C lần lượt dành cho người tự kinh doanh hoặc hành nghề trong nông nghiệp và hoạt động liên quan, trong khai khoáng, và trong một ngành kinh doanh hoặc nghề nghiệp. Mỗi nhóm đều ghi một mức vốn mà Uỷ ban Kiểm soát nhập cư có thể ấn định thấp hơn. Nhóm D dành cho người tự hành nghề trong một ngành nghề hoặc lĩnh vực khoa học mà Cộng hoà Síp cần thêm người làm việc. Nhóm E dành cho người có lời mời làm việc lâu dài, với điều kiện việc làm đó không tạo ra sự cạnh tranh quá mức tại địa phương. Cả D và E đều không ghi con số.
Nhóm F dành cho người có nguồn thu nhập hằng năm được bảo đảm từ nước ngoài, thuộc toàn quyền sử dụng và định đoạt của họ. Thu nhập phải ở mức phù hợp để người đó có cuộc sống ở mức thoả đáng tại Síp mà không phải tham gia bất kỳ hoạt động kinh doanh, thương mại hay hành nghề nào tại nước này. Mức yêu cầu là ít nhất 9.568 euro cho người nộp đơn và ít nhất 4.613 euro cho mỗi người phụ thuộc. Văn bản nêu các ví dụ gồm lương hưu, cổ tức từ cổ phần, lãi tiền gửi có kỳ hạn và tiền cho thuê; đây không phải danh sách khép kín.
Uỷ ban Kiểm soát nhập cư đưa ra đề xuất; Thứ trưởng phụ trách Di trú và Bảo hộ quốc tế quyết định cấp phép. Giấy phép bao gồm vợ hoặc chồng và con dưới 18 tuổi của người được cấp. Người giữ giấy phép và người phụ thuộc đã thành niên có quyền cư trú không thời hạn, nhưng thẻ hết hạn sau 10 năm kể từ ngày cấp và phải thay thẻ mới. Thẻ của người phụ thuộc chưa thành niên chỉ có hiệu lực đến khi người đó đủ 18 tuổi. Lệ phí là 500 euro cho toàn bộ những người cùng một đơn, cộng thêm 70 euro trong trường hợp cần Giấy chứng nhận đăng ký người nước ngoài.
Mỗi con số trong danh mục đều được công bố bằng hai đồng tiền. Trang của cơ quan phụ trách, đăng ngày 29/12/2025, ghi mức vốn nhóm A là khoảng 430.000 euro (250.000 bảng Síp), nhóm B khoảng 350.000 euro (200.000 bảng Síp), nhóm C khoảng 260.000 euro (150.000 bảng Síp). Với nhóm F, các mức là 9.568 euro (5.600 bảng Síp) và 4.613 euro (2.700 bảng Síp). Đồng euro đã thay thế bảng Síp từ ngày 1/1/2008.
Diện thứ hai nằm ngay ở điều kế tiếp
Khoản 2 Điều 6 của quy chế (Regulation 6(2)) là cơ sở cho diện còn lại, không phải một danh mục các nhóm. Theo điều khoản này, sau khi thông báo cho Hội đồng Bộ trưởng, Bộ trưởng Nội vụ quyết định cấp giấy phép nhập cư cho những trường hợp đầu tư đáp ứng chính sách đã nêu. Chính sách ấy là văn bản được cơ quan phụ trách công bố và sửa đổi; bản hiện hành ghi lần sửa đổi thứ tư, tháng 5/2023.
Chính sách yêu cầu đầu tư ít nhất 300.000 euro theo một trong bốn hình thức:
- Mua nhà hoặc căn hộ được bán lần đầu từ một công ty phát triển bất động sản;
- Mua bất động sản khác, kể cả bất động sản bán lại;
- Góp vào vốn cổ phần của một công ty tại Síp có hiện diện thực tế và ít nhất 5 nhân viên;
- Mua đơn vị vốn trong một tổ chức đầu tư tập thể tại Síp.
Ngoài khoản vốn này, người nộp đơn phải có nguồn thu nhập cá nhân hằng năm được bảo đảm ít nhất 50.000 euro. Mức yêu cầu tăng thêm 15.000 euro nếu có vợ hoặc chồng, và 10.000 euro cho mỗi con chưa thành niên phụ thuộc.
Nguồn thu nhập được chấp nhận phụ thuộc vào hình thức đầu tư. Người mua nhà hoặc căn hộ phải chứng minh thu nhập phát sinh từ nước ngoài bằng tờ khai thuế tại quốc gia nơi mình cư trú về thuế; thu nhập của vợ hoặc chồng được cộng vào tổng số. Nếu chọn một trong ba hình thức còn lại, người nộp đơn có thể sử dụng thu nhập phát sinh toàn bộ hoặc một phần từ các hoạt động tại Cộng hoà Síp.
Cả hai diện đều không lấy việc làm tại Síp làm cơ sở
Hai diện diễn đạt khác nhau về mối liên hệ giữa người nộp đơn và việc làm tại Síp. Nhóm F dành cho người không phải tham gia bất kỳ hoạt động kinh doanh, thương mại hay hành nghề nào tại nước này. Cách viết ấy mô tả tình trạng tài chính, chứ không đặt ra lệnh cấm. Chính sách dành cho nhà đầu tư nêu rõ hơn: Người nộp đơn và vợ hoặc chồng phải xác nhận không có ý định làm việc dưới bất kỳ hình thức nào tại Cộng hoà Síp; ngoại lệ được nêu là giữ chức giám đốc trong công ty họ đã đầu tư. Cả hai cách diễn đạt đều không áp dụng đến việc làm bên ngoài Síp.
Mỗi diện còn có một điều kiện mà trang thông tin của diện kia không nêu. Giấy phép dành cho nhà đầu tư gắn với tài sản đầu tư: Nếu chuyển nhượng hoặc thanh lý khoản đầu tư mà không lập tức thay bằng khoản khác có giá trị bằng hoặc cao hơn, giấy phép bị huỷ theo Điều 6 của quy chế. Trang thông tin về giấy phép nhập cư nêu những trường hợp mất hiệu lực khác. Giấy phép hết hiệu lực nếu người được cấp đang sống ngoài Síp mà không đến cư trú trong vòng 1 năm kể từ khi được chấp thuận, hoặc nếu người đó có quyền thường trú ở nước ngoài hay vắng mặt tại Síp trong 2 năm.
Phép quy đổi cho thấy gì về các con số
Quy định số 1135/2007 của Hội đồng Liên minh châu Âu (Council Regulation (EC) No 1135/2007) ban hành ngày 10/7/2007, ấn định tỷ giá quy đổi 0,585274 bảng Síp cho 1 euro, có hiệu lực từ ngày 1/1/2008. Áp dụng tỷ giá này, các con số đã công bố tách thành hai nhóm.
Các mức của nhóm F khớp với phép quy đổi sang euro. Theo tỷ giá trên, 5.600 bảng Síp tương đương 9.568,17 euro, còn trang thông tin ghi 9.568 euro. Tương tự, 2.700 bảng Síp tương đương 4.613,22 euro, trong khi con số được ghi là 4.613 euro. Cả hai phần lẻ đều dưới nửa euro, nên phép tính không phân biệt được đây là kết quả làm tròn hay bỏ phần thập phân. Phép tính cũng không cho biết các mức tiền ấy đã được xác định như thế nào.
Các ngưỡng vốn thì không khớp. Khoản 250.000 bảng Síp quy đổi thành 427.150 euro, so với mức công bố 430.000 euro; 200.000 bảng Síp thành 341.720 euro, so với 350.000 euro; 150.000 bảng Síp thành 256.290 euro, so với 260.000 euro. So với số đã quy đổi, số công bố cao hơn lần lượt 0,67%, 2,42% và 1,45%, và đều rơi vào một con số tròn. Chính cách ghi trên trang thông tin cũng phân biệt các mức này: Con số của nhóm A, B và C đều đi kèm chữ “khoảng”. Nhóm F không có chữ ấy.
Đặt cạnh nhau, hai ngưỡng thu nhập tối thiểu là 50.000 euro và 9.568 euro, tương ứng tỷ lệ 5,23 lần.
Những điểm chưa xác lập được
Chưa xác lập được các mức tiền của nhóm F có từng được sửa đổi kể từ năm 2008 hay không. Bản quy chế hợp nhất chưa được đọc: Một cổng thông tin pháp luật của Síp yêu cầu xác minh để chặn truy cập tự động, và bước xác minh này chưa vượt qua được; một cổng khác trả về lỗi tại danh mục văn bản dưới luật. Điều có thể nói chỉ giới hạn ở một thông tin gắn với thời điểm cụ thể: Cơ quan có thẩm quyền, trên trang đăng ngày 29/12/2025, ghi ngưỡng bằng euro bên cạnh một con số bằng bảng Síp.
Cũng vì vậy, chưa xác lập được ai có quyền sửa từng con số và theo thủ tục nào. Tài liệu đã đọc cho biết ai quyết định hồ sơ, không cho biết ai được sửa các yêu cầu. Dòng chữ “lần sửa đổi thứ tư” ghi nhận việc chính sách dành cho nhà đầu tư được ban hành lại, không chứng tỏ ngưỡng thu nhập của chính sách đã thay đổi bốn lần.
Không trang nào đã đọc giải thích vì sao các mức của nhóm F khớp với phép quy đổi, còn ba nhóm kia thì không. Cũng không tài liệu nào đã đọc cho biết số giấy phép được cấp theo từng diện.
Điều 5 của quy chế đặt một yêu cầu định tính bên cạnh yêu cầu định lượng: Thu nhập phải ở mức phù hợp để có cuộc sống ở mức thoả đáng. Chưa nguồn nào đã đọc nêu rõ yêu cầu nào được lấy làm căn cứ khi hai yêu cầu này không trùng nhau, hoặc liệu mức sàn 9.568 euro có được xem là đủ trong thực tế hay không.
Điều kiện về thời gian vắng mặt xuất hiện trên trang dành cho các nhóm thuộc Điều 5 của quy chế. Chưa xác lập được điều kiện ấy có áp dụng cho giấy phép cấp theo khoản 2 Điều 6 hay không. Những điểm khác cũng chưa xác lập được gồm quyền cư trú riêng của con phụ thuộc sẽ ra sao khi đủ 18 tuổi, thu nhập của mỗi diện được tính trước hay sau thuế và các khoản khấu trừ, và được đo trong khoảng thời gian nào. Về cách chứng minh thu nhập, chỉ lựa chọn đầu tư nhà ở của diện nhà đầu tư nêu yêu cầu tờ khai thuế; với nhóm F, chưa nguồn nào đã đọc cho biết.
Những điều rút ra
Cả hai diện đều dành cho những người không đến Síp để nhận việc làm. Điểm chung gần như chỉ có vậy: Trong bốn lựa chọn của diện nhà đầu tư, ba lựa chọn chấp nhận thu nhập kiếm được tại Síp, còn nhóm F thì không. Khác biệt ấy không giải thích được khoảng cách giữa 9.568 euro và 50.000 euro, khi diện nhà đầu tư còn đòi hỏi 300.000 euro vốn và phải tiếp tục duy trì khoản đầu tư.
Tài liệu cho thấy nơi từng con số được công bố. Một con số nằm trong danh mục các nhóm, bằng euro, bên cạnh đồng tiền Síp từng dùng cho đến năm 2008. Con số kia nằm trong chính sách do Bộ trưởng Nội vụ ban hành và đã ban hành lại, gần nhất vào tháng 5/2023. Các trang đã đọc không cho biết ai có quyền thay đổi từng con số.
The Legation Times biên soạn nội dung từ tài liệu đã công bố; nội dung tại đây không phải tư vấn pháp lý, tư vấn thuế hay khuyến nghị đầu tư. Trường hợp quý độc giả phát hiện ra sai sót, kính mời quý độc giả gửi yêu cầu đính chính. Với trường hợp liên quan đến quyền sử dụng nội dung, hãy thực hiện gửi yêu cầu gỡ bỏ.