13/09/2026 · Việt Nam EN

Citizenship · Capital · Global Mobility

The Legation Times

Diện hưu trí Bồ Đào Nha được nêu ở nghị định chứ không ở luật

Edward Nguyen Edward Nguyen
Diện hưu trí Bồ Đào Nha được nêu ở nghị định chứ không ở luật

Một con phố dân cư ở Lisbon. Diện hưu trí được gọi tên trong nghị định hướng dẫn và thông tư cấp bộ, không phải trong luật nhập cư.

Từ reformado vắng trong bản hợp nhất luật nhập cư nhưng có ở nghị định hướng dẫn và thông tư cấp bộ, trong đó chính thông tư yêu cầu người đã nghỉ hưu bảo đảm tài chính ít nhất 12 tháng.

“Reformado”, từ tiếng Bồ Đào Nha chỉ người đã nghỉ hưu, không có trong bản hợp nhất luật nhập cư nước này. Nghị định hướng dẫn và thông tư được dẫn chiếu nêu diện này cùng chứng từ tài chính người nộp hồ sơ phải cung cấp. Cả hai đều không ấn định số tiền cụ thể; mức tiền làm căn cứ được xác định theo lương tối thiểu quốc gia.

Luật quy định thị thực cư trú nhưng không nêu diện hưu trí

Lei n.º 23/2007 ngày 4/7/2007, còn gọi là Lei de Estrangeiros, dành một tiểu mục trong bản hợp nhất để quy định về thị thực cư trú của Bồ Đào Nha. Điều 58 đặt ra quy định chung. Tám điều khác gắn thị thực cư trú với một mục đích cụ thể:

  • Điều 59, làm công hưởng lương;
  • Điều 60, làm việc tự doanh hoặc di dân khởi nghiệp;
  • Điều 61, giảng dạy, hoạt động đòi hỏi trình độ chuyên môn cao hoặc hoạt động văn hoá;
  • Điều 61-A, hoạt động đòi hỏi trình độ chuyên môn cao do người làm công thực hiện;
  • Điều 61-B, làm việc từ xa cho cá nhân hoặc pháp nhân có nơi cư trú hoặc trụ sở ngoài lãnh thổ Bồ Đào Nha;
  • Điều 62, nghiên cứu, học tập, trao đổi học sinh, thực tập và tình nguyện;
  • Điều 63, dịch chuyển sinh viên đại học;
  • Điều 64, đoàn tụ gia đình.

Không điều nào trong số đó dành cho người đã nghỉ hưu hoặc người sống bằng thu nhập từ đầu tư. Bản thân Điều 58 cũng không nêu một mục đích riêng. Khoản 3 Điều 58 quy định hồ sơ xin thị thực cư trú được xem xét theo mục đích dự kiến của việc xác lập nơi cư trú, đồng thời phải đáp ứng các điều kiện riêng nếu có. Tiểu mục kết thúc ở Điều 65, một điều khoản về thủ tục. Chương về giấy phép cư trú của cùng đạo luật cũng chia theo nhóm như vậy, gồm chín tiểu mục, và không tiểu mục nào dành cho người nghỉ hưu.

Đây là nhận định về câu chữ của luật; việc kiểm tra cũng dựa trên câu chữ, bằng cách tìm kiếm toàn văn. Trên toàn bộ bản hợp nhất gồm 465.767 ký tự, không có kết quả nào cho các từ “reformado”, “pensionista” và “aposentado”, đều chỉ người nghỉ hưu hoặc hưởng lương hưu. Các cụm “rendimentos de bens” — thu nhập từ tài sản, “propriedade intelectual” — sở hữu trí tuệ, và “aplicações financeiras” — đầu tư tài chính, cũng không xuất hiện. Kết quả tìm kiếm trong văn bản được ban hành năm 2007 cũng tương tự.

Tuy vậy, luật vẫn có một diện thị thực dựa trên nguồn tiền từ nước ngoài. Điều 61-B, được bổ sung bằng Lei n.º 18/2022 vào tháng 8/2022, cho phép cấp thị thực cư trú để thực hiện hoạt động nghề nghiệp từ xa cho cá nhân hoặc pháp nhân có nơi cư trú hoặc trụ sở ngoài lãnh thổ Bồ Đào Nha. Diện này dành cho người làm việc từ xa phục vụ bên ở nước ngoài, không dành cho thu nhập thụ động — khoản thu có được mà không cần làm việc.

Diện hưu trí được nêu trong hai văn bản hướng dẫn

Văn bản thứ nhất là Decreto Regulamentar n.º 84/2007, nghị định hướng dẫn thi hành luật. Khoản 1 Điều 24 liệt kê 5 nhóm người xin thị thực cư trú mà thông tư cấp bộ phải quy định cách chứng minh nguồn tài chính bảo đảm sinh hoạt, tức tiền để trang trải cuộc sống.

Nhóm đầu tiên gồm người đến làm việc, học tập, thực tập hoặc làm tình nguyện; nhóm cuối gồm chức sắc tôn giáo và thành viên các hội dòng. Ba nhóm ở giữa gồm:

  • Công dân nước ngoài đã nghỉ hưu, được gọi là “cidadãos estrangeiros reformados”;
  • Người sống bằng thu nhập từ động sản, tức tài sản không phải bất động sản, từ bất động sản hoặc từ sở hữu trí tuệ;
  • Người sống bằng thu nhập từ các khoản đầu tư tài chính.

Điều 24 được sửa đổi bằng Decreto Regulamentar n.º 4/2022, có hiệu lực từ ngày 30/10/2022.

Văn bản thứ hai là Portaria n.º 1563/2007 ngày 11/12/2007, thông tư được các quy định trên dẫn chiếu. Chính thông tư nêu căn cứ ban hành của nó, trong đó có điểm d khoản 1 Điều 52 của luật và Điều 24 của nghị định. Khoản 6 Điều 5 của thông tư không làm ảnh hưởng đến việc áp dụng các quy định đứng trước đó, đồng thời yêu cầu người xin thị thực cư trú có nguồn tài chính được bảo đảm trong ít nhất 12 tháng.

Với người đã nghỉ hưu, chứng từ phải thể hiện thu nhập và kèm theo bảo đảm rằng họ sẽ nhận được khoản thu đó, hoặc chứng minh nguồn thu nhập khác có thể sử dụng trên lãnh thổ Bồ Đào Nha. Với người sống bằng thu nhập từ tài sản, sở hữu trí tuệ hoặc đầu tư tài chính, chứng từ phải xác nhận nguồn thu có tồn tại, số tiền thu được và khả năng sử dụng nguồn thu ấy tại Bồ Đào Nha.

Lương tối thiểu làm căn cứ tính yêu cầu tài chính

Thông tư không ấn định một số tiền mà đặt ra tiêu chí tính. Căn cứ là mức lương tối thiểu tháng được bảo đảm, sau khi trừ các khoản đóng góp an sinh xã hội. Mức cần chứng minh được tính theo từng thành viên hộ gia đình, sử dụng thang tương đương sửa đổi của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) dùng để xác định ngưỡng nghèo. Thang này phân bổ theo tỷ lệ:

  • 100% cho người trưởng thành đầu tiên;
  • 50% cho mỗi người trưởng thành tiếp theo;
  • 30% cho trẻ em dưới 18 tuổi và con đã thành niên còn phụ thuộc.

Mức lương làm căn cứ được quy định trong pháp luật lao động. Decreto-Lei n.º 139/2025 ngày 29/12/2025 ấn định mức 920,00 euro từ ngày 1/1/2026 tại phần lãnh thổ lục địa của Bồ Đào Nha. Văn bản cũng ghi nhận lộ trình đã được thống nhất, từ 870 euro năm 2025 lên mục tiêu 1.020 euro vào năm 2028. Theo Điều 13 của thông tư, các mức tiền trong thông tư tự động tăng theo tỷ lệ tăng của mức lương này, nên có thể thay đổi mà không cần sửa thông tư.

Tuy nhiên, chỗ hai văn bản này gặp nhau lại không giải thích cách đối chiếu con số cụ thể với tiêu chí tính. Thông tư lấy lương tối thiểu sau khi trừ các khoản đóng góp an sinh xã hội làm căn cứ, trong khi cổng thông tin thị thực của Bộ Ngoại giao công bố mức 920 euro, bằng mức lương trước khấu trừ mà Decreto-Lei ấn định. Cả trang đăng thông tư lẫn trang thông tin thị thực đều không nêu cách viên chức lãnh sự tính toán thu nhập của người nộp hồ sơ.

Diện hưu trí phải chứng minh tài chính cho thời gian dài hơn

Điều 5 của thông tư quy định mỗi nhóm hồ sơ phải bảo đảm nguồn tài chính cho một khoảng thời gian khác nhau. Với người xin thị thực để làm công hưởng lương hoặc tự doanh, khoản 1 Điều 5 yêu cầu nguồn tài chính đủ cho ít nhất thời gian tối đa được phép theo khoản 2 Điều 58 của luật, kết hợp với điểm c khoản 1 Điều 72. Thời gian này gồm 4 tháng được phép lưu trú, cộng thời gian gia hạn tối đa 90 ngày mà điểm c khoản 1 Điều 72 cho phép đối với người giữ thị thực cư trú.

Người đã nghỉ hưu và người sống bằng thu nhập từ đầu tư phải chứng minh nguồn tài chính cho 12 tháng theo khoản 6 Điều 5. Mốc 12 tháng là con số được nêu ở phần lớn Điều 5, gồm khoản 2 cho diện đầu tư, khoản 3 cho nghiên cứu và giảng dạy, khoản 4 cho học tập, và khoản 7 cho chức sắc tôn giáo. Diện lao động ở khoản 1 được tính theo thời hạn tối đa của chính thị thực, còn diện thực tập hoặc tình nguyện ở khoản 5 và người tham gia chương trình trao đổi ở khoản 4 được tính theo số tháng lưu trú dự kiến. Các khoản 3, 4, 5 và 7 còn cho phép hạ mức tiền khi nguồn tài chính, chỗ ở hoặc bữa ăn được bảo đảm. Khoản 6, khoản dành cho người đã nghỉ hưu, không nêu cách hạ nào như vậy.

Luật, nghị định hướng dẫn và thông tư đều không quy định một mức số dư ngân hàng. Khoản 6 Điều 5 yêu cầu nguồn tài chính được bảo đảm trong thời gian quy định. Yêu cầu có tài khoản tại một ngân hàng Bồ Đào Nha xuất hiện trên một trang thông tin lãnh sự, không có trong cả ba.

Giấy phép cư trú được xét riêng với cùng yêu cầu tài chính

Theo khoản 1 Điều 58, thị thực cư trú cho phép người được cấp nhập cảnh Bồ Đào Nha để xin giấy phép cư trú. Việc cấp giấy phép là một quyết định riêng của Cơ quan Hội nhập, Di cư và Tị nạn — Agência para a Integração, Migrações e Asilo (AIMA) — theo khoản 1 Điều 77. Người xin cấp phải đồng thời đáp ứng 10 điều kiện, trong đó có thị thực cư trú còn hiệu lực, nguồn tài chính bảo đảm sinh hoạt theo quy định của chính thông tư nói trên và chỗ ở.

Yêu cầu tài chính tiếp tục áp dụng ở giai đoạn này. Khoản 1 Điều 7 của thông tư yêu cầu người xin cấp hoặc gia hạn giấy phép cư trú tạm thời chứng minh vẫn có nguồn tài chính theo Điều 5, có xét đến mục đích của giấy phép.

Trang hướng dẫn của AIMA về chế độ cư trú chung nêu căn cứ pháp lý là khoản 1 Điều 77, cùng nghị định hướng dẫn và thông tư. Như vậy, cơ quan quyết định cấp giấy phép có viện dẫn văn bản nêu diện hưu trí. Trang này cho biết giấy phép cư trú tạm thời có thời hạn 2 năm kể từ ngày cấp, được gia hạn từng kỳ 3 năm tiếp theo, trừ trường hợp áp dụng quy định riêng.

Những điểm chưa thể kết luận

Ký hiệu “D7” không xuất hiện trong bất kỳ văn bản pháp luật nào được đọc cho bài viết này, cũng không có trên các trang đã đọc thuộc cổng thông tin thị thực trung ương hoặc cơ quan quản lý cư trú. Ký hiệu này có xuất hiện trên trang lãnh sự của ít nhất một đại sứ quán Bồ Đào Nha. Trang đó liệt kê yêu cầu hồ sơ cho diện D7 nhưng không viện dẫn điều luật nào.

Điểm a khoản 1 Điều 77 yêu cầu thị thực cư trú phải được cấp cho một trong các mục đích mà luật quy định. Không điều nào của luật nêu việc hưởng lương hưu hoặc có thu nhập từ đầu tư là một mục đích như vậy. Các tài liệu đã đọc cũng không giải thích người được chấp thuận theo những nhóm mà nghị định nêu đáp ứng điều kiện này như thế nào. Chưa tìm thấy cách giải thích của tòa án hoặc của cơ quan quản lý về vấn đề đó.

Bài viết cũng chưa xác định được Portaria n.º 1563/2007 từng được sửa đổi hay chưa. Công báo Diário da República ghi nhận văn bản còn hiệu lực và không hiển thị văn bản sửa đổi nào. Đây là một dấu hiệu, chưa phải bằng chứng để kết luận.

Một diện cư trú dựa trên bốn văn bản

Bốn văn bản, do bốn chủ thể khác nhau ban hành, cùng tạo nên cơ sở cho diện cư trú này. Quốc hội ban hành luật, nêu các mục đích được cấp thị thực cư trú nhưng không nêu việc nghỉ hưu. Chính phủ ban hành nghị định nêu nhóm người nộp hồ sơ đã nghỉ hưu. Hai bộ trưởng ký thông tư quy định những gì nhóm này phải chứng minh. Văn bản thứ tư phục vụ chính sách lao động, ấn định mức lương mà thông tư dùng làm căn cứ. Theo Điều 13 của thông tư, mức tiền có thể tăng theo tỷ lệ tăng của mức lương đó mà không cần sửa đổi bất kỳ văn bản nào trong bốn văn bản.

Đọc bài này bằng tiếng Anh

The Legation Times biên soạn nội dung từ tài liệu đã công bố; nội dung tại đây không phải tư vấn pháp lý, tư vấn thuế hay khuyến nghị đầu tư. Trường hợp quý độc giả phát hiện ra sai sót, kính mời quý độc giả gửi yêu cầu đính chính. Với trường hợp liên quan đến quyền sử dụng nội dung, hãy thực hiện gửi yêu cầu gỡ bỏ.

Đọc thêm

Bản tin hàng tuần

Bản tin về đầu tư quốc tịch, dòng vốn và dịch chuyển toàn cầu sẽ được gửi hàng tuần. Quý độc giả vui lòng để lại địa chỉ thư điện tử để nhận bản tin mới nhất.