10/09/2026 · Việt Nam EN

Citizenship · Capital · Global Mobility

The Legation Times

Hộ chiếu thứ hai không quyết định cư trú thuế tại Việt Nam

Edward Nguyen Edward Nguyen
Hộ chiếu thứ hai không quyết định cư trú thuế tại Việt Nam

Một buổi tư vấn hồ sơ. Cư trú thuế tại Việt Nam được xác định bằng số ngày có mặt và nơi ở thường xuyên, không bằng tấm hộ chiếu — ảnh minh hoạ.

Theo Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15, nơi ở thường xuyên tại Việt Nam có thể duy trì nghĩa vụ thuế đối với thu nhập toàn cầu ngay cả khi cá nhân đã chuyển ra nước ngoài.

Từ ngày 1/7/2026, Việt Nam áp dụng Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15, được thông qua ngày 10/12/2025, thay thế luật năm 2007 và bãi bỏ 8 luật sửa đổi. Riêng các quy định về thu nhập từ kinh doanh, tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú được áp dụng từ kỳ tính thuế năm 2026. Nghị định số 253/2026/NĐ-CP ngày 30/6/2026 cũng thay thế nghị định năm 2013.

Với công dân Việt Nam có giấy phép cư trú ở nước ngoài hoặc quốc tịch thứ hai, vấn đề xuyên suốt hệ thống quy định mới là căn cứ nào chấm dứt nghĩa vụ kê khai tại Việt Nam đối với thu nhập toàn cầu, tức thu nhập phát sinh cả trong và ngoài Việt Nam.

Luật xác định cá nhân cư trú theo tiêu chí nào

Theo khoản 2 Điều 2 của luật, một người là cá nhân cư trú nếu đáp ứng 1 trong 2 điều kiện. Đây là cách phân loại cá nhân theo pháp luật thuế, làm căn cứ xác định phạm vi thu nhập phải chịu thuế.

Điều kiện thứ nhất là có mặt tại Việt Nam từ 183 ngày trở lên trong năm dương lịch hoặc trong 12 tháng liên tục kể từ ngày đầu tiên có mặt tại Việt Nam. Điều kiện thứ hai là có nơi ở thường xuyên tại Việt Nam, gồm nơi ở đăng ký thường trú hoặc nhà thuê để ở tại Việt Nam theo hợp đồng thuê có thời hạn.

Chỉ cần đáp ứng 1 trong 2 điều kiện. Vì vậy, người có mặt dưới 183 ngày vẫn là cá nhân cư trú nếu đáp ứng điều kiện về nơi ở thường xuyên. Cả 2 điều kiện đều không đề cập đến quốc tịch. Chỉ riêng việc có hộ chiếu Việt Nam không làm một người trở thành cá nhân cư trú; tương tự, có hộ chiếu thứ hai không tự chấm dứt tình trạng này. Khoản 3 Điều 2 xác định cá nhân không cư trú là người không đáp ứng điều kiện nào trong 2 điều kiện trên.

Tình trạng cư trú quyết định những khoản thu nhập nào phải chịu thuế. Theo khoản 1 Điều 2 của luật và khoản 2 Điều 6 của nghị định, cá nhân cư trú chịu thuế đối với thu nhập chịu thuế phát sinh trong và ngoài Việt Nam, trừ thu nhập được miễn thuế. Cá nhân không cư trú chỉ chịu thuế đối với thu nhập phát sinh tại Việt Nam. Khoản 1 Điều 8 quy định thu nhập từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú chịu thuế không phân biệt nơi trả thu nhập.

Nơi ở thường xuyên bao gồm những địa điểm nào

Khoản 4 Điều 2 của luật giao Chính phủ quy định chi tiết; nội dung này được cụ thể hóa tại Điều 4 của nghị định. Với công dân Việt Nam, nơi ở đăng ký thường trú là nơi cá nhân sinh sống thường xuyên, ổn định, không có thời hạn tại một chỗ ở nhất định và đã đăng ký thường trú theo pháp luật về cư trú.

Phạm vi nhà thuê để ở rộng hơn cách hiểu thông thường. Theo điểm b khoản 2 Điều 4, người không có nơi ở đăng ký thường trú cũng được xác định là cá nhân cư trú nếu tổng thời hạn thuê nhà để ở từ 183 ngày trở lên trong năm tính thuế, kể cả khi thuê tại nhiều nơi. Nhà thuê để ở bao gồm khách sạn, nhà khách, nhà nghỉ, nhà trọ, nơi làm việc và trụ sở cơ quan. Quy định áp dụng dù cá nhân hay người sử dụng lao động đứng tên thuê.

Cách đếm ngày có mặt được quy định tại khoản 1 Điều 4. Ngày đến và ngày đi đều được tính là 1 ngày; nếu nhập cảnh và xuất cảnh trong cùng ngày thì tính là 1 ngày cư trú. Căn cứ xác định ngày là chứng thực của cơ quan quản lý xuất nhập cảnh trên hộ chiếu hoặc giấy thông hành, hoặc giấy tờ liên quan đến mục đích xuất nhập cảnh.

Chuyển ra nước ngoài vẫn có thể là cá nhân cư trú

Khoản 3 Điều 4 của nghị định quy định trực tiếp trường hợp có nơi ở thường xuyên tại Việt Nam nhưng thực tế có mặt dưới 183 ngày trong năm tính thuế. Nếu không chứng minh được tình trạng cư trú thuế của mình tại bất kỳ quốc gia nào, người đó được xác định là cá nhân cư trú tại Việt Nam.

Quy định này nêu kết quả áp dụng khi cá nhân không chứng minh được tình trạng cư trú thuế ở nước ngoài, đồng thời xác định giấy tờ chứng minh là Giấy chứng nhận cư trú do quốc gia hoặc vùng lãnh thổ kia cấp.

Hiệp định tránh đánh thuế hai lần là thỏa thuận nhằm tránh đánh thuế trùng đối với cùng một khoản thu nhập. Nếu quốc gia hoặc vùng lãnh thổ đó có hiệp định này với Việt Nam nhưng không cấp Giấy chứng nhận cư trú, cá nhân có thể dùng bản chụp hộ chiếu để chứng minh thời gian cư trú.

Giấy phép cư trú và quyết định nhập quốc tịch không phải là Giấy chứng nhận cư trú. Các giấy tờ này xác lập quyền cư trú tại một quốc gia. Giấy chứng nhận cư trú xác nhận tình trạng cư trú thuế của người được cấp tại quốc gia kia — đúng nội dung cần chứng minh theo khoản 3 Điều 4.

Kỳ tính thuế trong năm chuyển nơi ở

Khoản 3 Điều 4 tính thời gian có mặt theo năm tính thuế. Trong khi đó, Điều 66 của nghị định quy định kỳ tính thuế — khoảng thời gian hoặc từng lần phát sinh thu nhập làm căn cứ tính thuế — khác nhau tùy loại thu nhập.

Đối với cá nhân cư trú, thu nhập từ kinh doanh, tiền lương, tiền công được tính thuế theo năm dương lịch. Nếu cá nhân có mặt tại Việt Nam dưới 183 ngày trong năm dương lịch nhưng đủ 183 ngày trong 12 tháng liên tục kể từ ngày đầu tiên có mặt tại Việt Nam, kỳ tính thuế đầu tiên là 12 tháng đó. Từ năm thứ hai, kỳ tính thuế chuyển sang năm dương lịch. Nghị định quy định công thức trừ phần thuế của những tháng trùng nhau khỏi số thuế phải nộp của năm thứ hai.

Theo điểm b khoản 1 Điều 66, các khoản thu nhập sau của cá nhân cư trú được tính thuế theo từng lần phát sinh:

  • Thu nhập từ đầu tư vốn;
  • Thu nhập từ chuyển nhượng vốn và chứng khoán;
  • Thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản;
  • Thu nhập từ trúng thưởng;
  • Thu nhập từ bản quyền;
  • Thu nhập từ nhượng quyền thương mại;
  • Thu nhập từ nhận thừa kế hoặc quà tặng là tài sản.

Mỗi khoản được tính thuế tại lần phát sinh tương ứng, thay vì cộng dồn để tính thuế theo năm.

Nghĩa vụ kê khai có thể thuộc trực tiếp về người nhận thu nhập. Khoản 5 Điều 67 yêu cầu cá nhân được tổ chức nước ngoài chưa đăng ký thuế tại Việt Nam trả thu nhập phải tự kê khai và nộp thuế. Khi có Hiệp định tránh đánh thuế hai lần, khoản 3 Điều 6 cho phép khấu trừ số thuế thu nhập cá nhân đã nộp ở nước ngoài vào số thuế phải nộp tại Việt Nam theo hiệp định đó.

Điều 68 dẫn chiếu pháp luật về quản lý thuế đối với việc quyết toán thuế, tức xác định số thuế phải nộp của kỳ và đối chiếu với số đã nộp. Theo điểm b khoản 2 Điều 44 của Luật Quản lý thuế số 38/2019/QH14, cá nhân trực tiếp quyết toán thuế phải nộp hồ sơ chậm nhất vào ngày cuối cùng của tháng thứ tư kể từ khi kết thúc năm dương lịch.

Những nội dung văn bản chưa làm rõ

Điều 68 không quy định thủ tục riêng cho cá nhân cư trú rời Việt Nam giữa năm, mà dẫn chiếu sang pháp luật về quản lý thuế. Nghị định xác định Giấy chứng nhận cư trú là bằng chứng, nhưng chưa nêu phải dùng giấy của năm nào khi năm tính thuế tại Việt Nam chỉ trùng một phần với năm tính thuế ở nước ngoài.

Khoản 1 Điều 71 giao Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định chi tiết các nội dung được nghị định giao. Thông tư số 87/2026/TT-BTC, thay thế toàn bộ thông tư năm 2013, cụ thể hóa các nội dung về giảm trừ cho người phụ thuộc và chứng khoán phái sinh, tức chứng khoán có giá trị phụ thuộc vào tài sản cơ sở. Thông tư không đề cập đến việc xác định tình trạng cư trú thuế.

Ngày ghi trên giấy phép cư trú nước ngoài không thuộc các tiêu chí xác định cư trú thuế. Với người có nơi ở thường xuyên tại Việt Nam nhưng có mặt dưới 183 ngày, bằng chứng theo khoản 3 Điều 4 là Giấy chứng nhận cư trú; bản chụp hộ chiếu chỉ thay thế khi quốc gia hoặc vùng lãnh thổ kia không cấp giấy này và có Hiệp định tránh đánh thuế hai lần với Việt Nam.

Đọc bài này bằng tiếng Anh

The Legation Times biên soạn nội dung từ tài liệu đã công bố; nội dung tại đây không phải tư vấn pháp lý, tư vấn thuế hay khuyến nghị đầu tư. Trường hợp quý độc giả phát hiện ra sai sót, kính mời quý độc giả gửi yêu cầu đính chính. Với trường hợp liên quan đến quyền sử dụng nội dung, hãy thực hiện gửi yêu cầu gỡ bỏ.

Đọc thêm

Bản tin hàng tuần

Bản tin về đầu tư quốc tịch, dòng vốn và dịch chuyển toàn cầu sẽ được gửi hàng tuần. Quý độc giả vui lòng để lại địa chỉ thư điện tử để nhận bản tin mới nhất.