Quần đảo Marshall bãi bỏ chương trình bán hộ chiếu ngày 18/10/2001

Một phòng lưu trữ hồ sơ giấy — ảnh minh hoạ. Báo cáo kiểm toán năm 2020 ghi nhận không có hồ sơ đầy đủ về những người đã nhận hộ chiếu qua chương trình.
Gia hạn đòi hỏi bằng chứng hộ chiếu được cấp hợp pháp và tên người giữ trong Master List; năm 2020, cơ quan kiểm toán nhà nước báo cáo hồ sơ người nhận hộ chiếu qua chương trình chưa đầy đủ.
Cộng hòa Quần đảo Marshall từng bán hộ chiếu qua chương trình cấp hộ chiếu theo đầu tư (Passport Investment Program), nhưng đã bãi bỏ quy định cho phép hoạt động này vào ngày 18/10/2001. Gần 25 năm sau, việc chấm dứt chương trình vẫn chi phối thủ tục dành cho những người đã mua hộ chiếu.
Video · 0:23Xem bản tin video dưới một phútQuần đảo Marshall từng bán hộ chiếu qua chương trình cấp hộ chiếu theo đầu tư. Quy định cho phép hoạt động này nằm tại khoản (4), điều 404 Luật Quốc tịch năm 1984, và bị bãi bỏ ngày 18/10/2001.
Luật Hộ chiếu năm 2020 (Passport Act, 2020), có hiệu lực ngày 11/12/2020, nêu đích danh chương trình này. Luật yêu cầu Nội các đưa tất cả những người có tên trong Master List — danh sách gốc những người được cấp hộ chiếu theo chương trình mà luật định nghĩa — vào quy trình nhập tịch. Khi thực hiện việc này, Nội các phải loại bỏ vĩnh viễn chương trình cùng mọi nội dung dẫn chiếu đến chương trình khỏi luật và các quy định quốc gia. Luật cũng xác định những giấy tờ người từng mua hộ chiếu phải xuất trình khi xin gia hạn.
Quy định bán hộ chiếu bị bãi bỏ ngày 18/10/2001
Tại Quần đảo Marshall, quyền bán hộ chiếu không được quy định trong một đạo luật riêng mà nằm tại khoản (4), điều 404 của Luật Quốc tịch năm 1984 (Citizenship Act 1984). Luật số 1989-37 bổ sung khoản này; Luật số 2001-30 bãi bỏ nó. Bản hợp nhất Luật Quốc tịch ghi nhận ngày bãi bỏ khoản (4) về bán hộ chiếu là 18/10/2001.
Danh mục văn bản bị bãi bỏ của Nitijela, tức Quốc hội Quần đảo Marshall, liệt kê các đạo luật bị bãi bỏ toàn bộ. Chương trình không có tên trong danh mục đó.
Bản hợp nhất không chép lại nội dung khoản đã bị bãi bỏ. Những gì còn lại là lịch sử sửa đổi, trong đó có một thay đổi về mức phí được ghi rõ: Luật số 1989-68 giảm phí cấp hộ chiếu từ 200.000 đô-la Mỹ xuống 100.000 đô-la Mỹ. Sau đó, khoản này tiếp tục được sửa đổi qua 3 văn bản: Luật số 1991-119, Luật số 1991-120 và Luật số 1995-137. Bản hợp nhất không cho biết những văn bản này đã thay đổi nội dung gì.
Mốc hình thành chương trình cũng khác nhau giữa 2 đạo luật. Luật Hộ chiếu năm 2020 định nghĩa đây là chương trình được thành lập năm 1994 và bãi bỏ năm 2001. Trong khi đó, Luật Quốc tịch ghi nhận văn bản bổ sung quy định bán hộ chiếu được ban hành năm 1989.
Cả hai đều là luật hiện hành của Quần đảo Marshall. Danh mục sửa đổi trong Luật Quốc tịch có một luật ban hành năm 1994, nhưng không nêu luật đó sửa nội dung gì. Các mốc thời gian ở đây được giữ đúng theo từng đạo luật; những tài liệu được xem xét cho bài viết chưa giải thích được mốc nào phản ánh quá trình vận hành thực tế của chương trình.
Hiệp ước loại trừ người mua hộ chiếu khỏi diện nhập cảnh Hoa Kỳ theo cơ chế này
Quần đảo Marshall có quan hệ liên kết tự do với Hoa Kỳ. Hiệp ước Liên kết Tự do (Compact of Free Association) là cơ sở trao cho công dân nước này các quyền tiếp cận Hoa Kỳ. Khi mô tả các quyền tại điều 141, đạo luật năm 2003 nêu quyền nhập cảnh, làm việc hợp pháp và cư trú tại Hoa Kỳ theo diện không định cư.
Người mua hộ chiếu không được hưởng các quyền đó theo Hiệp ước. Khoản 141(c) của Hiệp ước giữa Hoa Kỳ và Quần đảo Marshall, được luật hóa trong Đạo luật sửa đổi Hiệp ước Liên kết Tự do năm 2003 (Compact of Free Association Amendments Act of 2003), được phê chuẩn ngày 17/12/2003, quy định rằng người được cấp quốc tịch hoặc hộ chiếu Quần đảo Marshall thông qua bất kỳ chương trình đầu tư, bán hộ chiếu hay chương trình tương tự nào đều chưa từng và sẽ không đủ điều kiện nhập cảnh Hoa Kỳ theo Hiệp ước.
Cách quy định bao trùm cả quá khứ lẫn tương lai là điểm then chốt. Theo chính câu chữ của điều khoản, năm 2003 không phải mốc bắt đầu loại trừ; điều khoản phủ nhận việc những người thuộc nhóm này từng đủ điều kiện nhập cảnh theo Hiệp ước.
Một quy định khác có phạm vi rộng hơn, áp dụng với người nhập tịch. Các quyền trên không mở rộng tới người mà hoàn cảnh nhập tịch cho phép cơ quan có thẩm quyền của Hoa Kỳ suy luận hợp lý rằng họ có được quốc tịch chủ yếu để hưởng những quyền đó. Việc suy luận này phải tuân thủ các yêu cầu về thủ tục của Hoa Kỳ.
Người nhập tịch đủ điều kiện thuộc diện quy định tại khoản 141(a)(3), với yêu cầu cư trú thực tế ít nhất 5 năm sau khi nhập tịch và có giấy chứng nhận cư trú thực tế, hoặc thuộc diện tương ứng tại khoản 141(a)(4).
Pháp luật Quần đảo Marshall cũng ghi nhận giới hạn này. Hộ chiếu cấp khi gia hạn cho người từng mua theo chương trình phải chịu sự ràng buộc của các điều khoản liên quan trong Hiệp ước Liên kết Tự do đã được sửa đổi.
Gia hạn hộ chiếu đòi hỏi chứng từ và tên trong Master List
Điều 1726 của Luật Hộ chiếu năm 2020 của Quần đảo Marshall quy định việc gia hạn trên cơ sở giấy tờ chứng minh. Người nộp đơn phải chứng minh để Giám đốc phụ trách hộ chiếu và Hội đồng xét duyệt hộ chiếu chấp nhận rằng hộ chiếu đã được cấp hợp pháp theo chương trình.
Hồ sơ gồm bản sao có chứng thực giấy chứng nhận quốc tịch, hộ chiếu được cấp gần nhất và, khi cần, biên lai mua hộ chiếu. Trước hết, người nộp đơn phải chứng minh tên mình có trong Master List. Theo định nghĩa của luật, danh sách này ghi tên những người đã mua hộ chiếu hợp pháp.
Mọi đơn thuộc diện này đều phải chuyển đến Hội đồng xét duyệt. Hội đồng có thể từ chối nếu người nộp đơn chưa cung cấp đủ giấy tờ chứng minh mình là công dân hợp pháp của Cộng hòa Quần đảo Marshall. Luật quy định các quyết định của Hội đồng là quyết định cuối cùng sau khi được chứng nhận và chuyển tới Tổng chưởng lý.
Trong toàn bộ 36 trang của luật không xuất hiện các thuật ngữ chỉ kháng cáo, người bị ảnh hưởng bất lợi hay việc tòa án xem xét lại quyết định. Tòa án cấp cao (High Court) chỉ được nhắc đến trong nội dung về quyết định cấp quốc tịch theo thủ tục đăng ký.
Tuy nhiên, cần phân biệt thủ tục gia hạn với việc hủy hộ chiếu hoặc hủy quyết định nhập tịch. Việc có được hộ chiếu qua chương trình không nằm trong các căn cứ hủy hộ chiếu mà Luật Hộ chiếu quy định; những căn cứ này thuộc lĩnh vực hành chính và hình sự.
Quyết định nhập tịch cũng không tự động bị hủy. Luật Quốc tịch yêu cầu Bộ trưởng đề nghị Tòa án cấp cao xem xét; việc hủy phải có căn cứ và được tiến hành sau phiên điều trần, chẳng hạn khi có hành vi che giấu một tình tiết quan trọng. Vì vậy, thủ tục gia hạn đặt ra câu hỏi về giấy tờ chứng minh việc cấp hộ chiếu cho từng người, chứ không phải về tính hợp pháp của toàn bộ chương trình.
Khoảng trống hồ sơ trở thành trở ngại khi gia hạn
Tháng 3/2020, Radio New Zealand đưa tin về Báo cáo bán niên lần thứ 72 của Tổng Kiểm toán trình Nitijela, trong đó có nội dung kiểm toán cơ quan hộ chiếu của Quần đảo Marshall giai đoạn 2015–2017.
Theo bản tin, kiểm toán đánh giá công tác quản lý là không hiệu quả. Có 573 hộ chiếu đã cấp cho người Quần đảo Marshall không thuộc cộng đồng bản địa nhưng không có biên bản Nội các, quyết định của tòa án hay giấy tờ tương ứng khác xác nhận họ đã được cấp quốc tịch hợp pháp.
Sổ đăng ký những người đã trở thành công dân cũng không được duy trì qua các năm như Luật Quốc tịch yêu cầu. Kiểm toán đồng thời ghi nhận không có hồ sơ đầy đủ về những người Quần đảo Marshall không thuộc cộng đồng bản địa đã nhận hộ chiếu thông qua chương trình đầu tư trong thập niên 1990. Một nhóm người trong cùng gia đình vẫn được cấp hộ chiếu dù tấm séc thanh toán của họ bị từ chối chi trả.
Luật Hộ chiếu có hiệu lực 9 tháng sau báo cáo kiểm toán đó. Luật vừa đặt điều kiện người xin gia hạn phải có tên trong Master List, vừa giao Giám đốc nhiệm vụ hoàn thiện danh sách. Đây là nhiệm vụ mà văn bản năm 2020 vẫn đặt ra cho thời gian tới. Các nguồn được xem xét cho bài viết chưa xác lập được liệu Master List đã được hoàn thiện hay chưa.
Thị thực kinh doanh là diện gần nhất với nhu cầu của nhà đầu tư
Cả hai văn bản về nhập cư của Quần đảo Marshall được xem xét trong bài đều không quy định một loại thị thực được cấp trên cơ sở đầu tư. Luật Nhập cư năm 2006 (Immigration Act 2006) nêu 8 loại thị thực, không loại nào dựa trên đầu tư, đồng thời trao cho Bộ trưởng quyền bổ sung loại khác bằng quy định.
Theo Quy định Nhập cư năm 2009 (Immigration Regulations, 2009), diện gần nhất với nhu cầu của nhà đầu tư là thị thực kinh doanh. Thị thực này có thời hạn tối đa 2 năm, cho phép nhập cảnh nhiều lần và được cấp cho người có Giấy phép kinh doanh đầu tư nước ngoài (Foreign Investment Business Licence) cùng giấy phép lao động.
Người dự định tìm kiếm hoạt động kinh doanh tại Quần đảo Marshall nhưng chưa có giấy phép kinh doanh nói trên có thể được cấp thị thực tạm thời có thời hạn 3 tháng, cho phép nhập cảnh 1 lần. Luật không gắn một mức vốn cụ thể với cả hai diện này; quy định hướng dẫn cũng nêu điều kiện về giấy phép kinh doanh và giấy phép lao động mà không đặt ra con số vốn.
Thị thực cư trú cũng không phải thị thực cấp theo vốn đầu tư. Theo luật, các nhóm được tiếp cận diện này gồm người có Giấy chứng nhận cư trú thực tế (Certificate of Actual Residence); người đã nhập tịch hoặc có quốc tịch theo thủ tục đăng ký nhưng không có hộ chiếu Quần đảo Marshall; và công dân danh dự không có hộ chiếu nước này. Chỉ có vốn không đủ để một người thuộc bất kỳ nhóm nào trong số đó.
Cả hai diện nhập tịch đều có điều kiện hẹp. Theo diện nhập tịch chung, người nộp đơn phải có 10 năm cư trú thông thường, có nơi cư trú pháp lý lâu dài tại Quần đảo Marshall, có tư cách đạo đức tốt và có khả năng nói, hiểu tiếng Marshall. Yêu cầu ngôn ngữ được miễn nếu khuyết tật thể chất hoặc tinh thần khiến người nộp đơn không thể đáp ứng. Số người được nhập tịch theo diện này bị giới hạn ở 10 người mỗi năm, tính cả người phụ thuộc.
Diện nhập tịch theo quyền xem xét đặc biệt yêu cầu người nộp đơn có đóng góp xuất sắc cho Cộng hòa Quần đảo Marshall, hoặc việc trao quốc tịch phục vụ lợi ích công cộng theo cách khác. Người đó đồng thời phải có nơi cư trú pháp lý lâu dài tại nước này. Diện này bị giới hạn ở 5 người mỗi năm.
2 câu hỏi còn bỏ ngỏ
Tác động thực tế của cơ chế gia hạn phụ thuộc vào 2 câu hỏi mà các nguồn được xem xét chưa trả lời được: Master List đã hoàn thiện hay chưa, và Hội đồng xét duyệt đã xử lý các đơn thuộc diện này như thế nào kể từ tháng 12/2020?
Cả hai câu hỏi đều liên quan trực tiếp đến người đã mua hộ chiếu Quần đảo Marshall nhiều thập niên trước. Khi xin gia hạn, họ phải đáp ứng yêu cầu chứng từ của một đạo luật, trong khi chính cơ quan kiểm toán nhà nước đã ghi nhận năm 2020 rằng hồ sơ về những người nhận hộ chiếu không thể được tái lập đầy đủ.
Khi thẩm định giấy tờ do Quần đảo Marshall cấp hiện nay, những căn cứ cần xác minh trước tiên là giấy chứng nhận quốc tịch và tên người giữ hộ chiếu trong Master List. Theo luật, thiếu giấy tờ chứng minh là căn cứ từ chối gia hạn, không chỉ là thiếu sót về thủ tục.
The Legation Times biên soạn nội dung từ tài liệu đã công bố; nội dung tại đây không phải tư vấn pháp lý, tư vấn thuế hay khuyến nghị đầu tư. Trường hợp quý độc giả phát hiện ra sai sót, kính mời quý độc giả gửi yêu cầu đính chính. Với trường hợp liên quan đến quyền sử dụng nội dung, hãy thực hiện gửi yêu cầu gỡ bỏ.