31/10/2026 · Việt Nam EN

Citizenship · Capital · Global Mobility

The Legation Times

Active Investor Plus Visa

Thị thực nhà đầu tư New Zealand

Đang mở đối chiếu 15/09/2026 · www.immigration.govt.nz

Thị thực Active Investor Plus của New Zealand cấp thị thực thường trú cho nhà đầu tư giữ tối thiểu 5 triệu NZD trong các khoản đầu tư được chấp nhận suốt 36 tháng theo hạng Tăng trưởng. Người giữ thị thực phải có mặt tại New Zealand tối thiểu 21 ngày trong kỳ ấy, và cơ quan công bố 80% hồ sơ được chấp thuận về nguyên tắc trong vòng bốn tháng. Theo Prosperous Intelligence, hộ chiếu New Zealand, cấp cho công dân chứ không cho người giữ thị thực này, tới được 196 điểm đến không cần xin thị thực lãnh sự trước.

Tổng quan chương trình

  • Tên chính thức chương trình: Active Investor Plus Visa
  • Website: immigration.govt.nz
  • Cơ quan quản lý: Immigration New Zealand

Ngưỡng vốn tối thiểu

Hạng Tăng trưởng: Giữ tối thiểu 5 triệu NZD trong các khoản đầu tư được chấp nhận tại New Zealand suốt 36 tháng. Hạng Cân bằng: Giữ tối thiểu 10 triệu NZD suốt 60 tháng.

Phải nộp bằng chứng vốn vẫn còn được đầu tư ở mốc 24 tháng và mốc 36 tháng với hạng Tăng trưởng, ở mốc 24 tháng và 60 tháng với hạng Cân bằng, mỗi lần trong vòng ba tháng kể từ mốc ấy.

Hai hạng khác nhau không chỉ ở số tiền mà ở loại tài sản được nhận, và đây là chỗ quyết định tính thanh khoản: Hạng Tăng trưởng nhận đầu tư trực tiếp, quỹ được quản lý và hoạt động từ thiện, với từ thiện không vượt 20% tổng số đã đầu tư; hạng Cân bằng nhận thêm cổ phiếu niêm yết, trái phiếu và các dự án phát triển bất động sản.

Chính cơ quan cảnh báo về hạng Tăng trưởng bằng chữ của mình: Đó là những khoản rủi ro cao hơn, thường không thanh khoản, và cam kết có thể kéo dài quá thời hạn đầu tư tối thiểu của diện. Nghĩa là 36 tháng là sàn của thị thực, không phải sàn của tiền.

Cơ quan cũng nói thẳng hai điều mà bản chào của bên bán hay bỏ: Chương trình không được thiết kế để nhận mọi cơ hội đầu tư có tại New Zealand, và Invest New Zealand chỉ xét một khoản có được chấp nhận hay không chứ không bảo đảm hay chứng thực cho khoản ấy thành công.

Về nguồn tiền: Phải chứng minh kiếm được hoặc có được hợp pháp, và tiền được tặng vẫn dùng được nếu việc tặng là vô điều kiện và hợp pháp — nhưng không dùng được nếu khoản tặng ấy đã ở New Zealand, hoặc từng ở New Zealand bất kỳ lúc nào, trong phần vốn đã khai.

Một quy tắc có lợi về thời điểm: Ai đã có tiền nằm trong một khoản đầu tư được chấp nhận tại New Zealand thì kỳ đầu tư được tính từ ngày hồ sơ thường trú được chấp thuận.

Kết quả pháp lý

Thứ nhận được cuối cùng là thị thực thường trú cho phép sống, làm việc và học tập tại New Zealand không giới hạn thời gian, và được xin thường trú vĩnh viễn sau ba năm giữ vốn nếu theo hạng Tăng trưởng, hoặc sau năm năm nếu theo hạng Cân bằng.

Nhưng nó không đến trong một bước, và đây là phần người đọc cần biết trước khi tính lịch. Cơ quan chấp thuận hồ sơ về nguyên tắc trước; chỉ từ thời điểm ấy người nộp mới có sáu tháng để chuyển và đầu tư số vốn đã khai.

Trong khoảng ấy chưa ai là thường trú nhân, nên cả gia đình đi bằng ba loại giấy tờ tạm khác nhau: Đương đơn chính xin thị thực lao động mục đích cụ thể để sang lo việc chuyển tiền và đầu tư, người bạn đời phải tự xin thị thực du khách của riêng mình, còn con phụ thuộc xin thị thực du học.

Ai trễ hạn sáu tháng vẫn còn một cửa: Cơ quan có thể cho thêm sáu tháng, nhưng phải liên hệ trước khi kỳ chuyển tiền hết hạn và chứng minh đã có những bước hợp lý.

Và thứ thường trú ấy mang một quyền đi lại có hạn theo từng hạng, điều mà chữ không giới hạn thời gian dễ làm người ta hiểu sai: Được ra vào New Zealand với tư cách thường trú nhân trong bốn năm kể từ ngày đầu tiên có mặt nếu theo hạng Tăng trưởng, và sáu năm nếu theo hạng Cân bằng.

Cuối cùng, có thị thực chưa phải là được vào: Cơ quan giữ quyền từ chối cho phép nhập cảnh nếu người giữ không còn đáp ứng điều kiện nhân thân, nếu hoàn cảnh đã thay đổi kể từ khi cấp, hoặc nếu từ chối cho chụp ảnh, lấy dấu vân tay hay quét mống mắt.

Thời gian xử lý công bố

Ở diện này phải tách hẳn một số thống kê khỏi một thời hạn, vì cơ quan công bố cả hai và chúng không cùng loại.

Con số thống kê: 80% hồ sơ được chấp thuận về nguyên tắc trong vòng bốn tháng — đó là tỷ lệ đạt được trong quá khứ, không phải cam kết cho hồ sơ của một người cụ thể, nên không có gì để viện dẫn nếu hồ sơ của mình nằm ngoài 80% ấy.

Thời hạn thật, và là thời hạn duy nhất mà việc trễ có hậu quả trực tiếp: Sáu tháng kể từ ngày được chấp thuận về nguyên tắc để chuyển và đầu tư số vốn đã khai, gia hạn thêm được sáu tháng nhưng phải xin trước khi hết hạn.

Điểm dễ tính sai nhất là hai đồng hồ này không nối tiếp nhau: Kỳ giữ vốn 36 hoặc 60 tháng bắt đầu chạy từ lúc tiền được đầu tư, chứ không từ lúc hồ sơ được chấp thuận, nên sáu tháng chuyển tiền là thời gian nằm ngoài kỳ đầu tư và cộng thêm vào tổng thời gian chờ thường trú vĩnh viễn.

Hạn nộp bằng chứng và các mốc của nó ghi ở ô ngưỡng vốn; cơ quan còn kèm một ví dụ tính sẵn để khỏi đếm sai, lấy mốc đầu tư 18/03/2026 thì bằng chứng mốc hai năm rơi vào 18/03/2028 và được nộp muộn nhất tới 18/06/2028.

Còn hai mốc nữa thuộc phía người giữ: Quyền ra vào với tư cách thường trú nhân chỉ kéo bốn năm kể từ ngày đầu tiên có mặt với hạng Tăng trưởng và sáu năm với hạng Cân bằng, và trong suốt kỳ đầu tư phải làm bản hỏi đáp sau đầu tư đúng hai lần.

Yêu cầu cư trú thực tế

Nghĩa vụ có mặt đo bằng ngày và đếm chỉ khi đã giữ thị thực thường trú: Hạng Tăng trưởng phải ở New Zealand tối thiểu 21 ngày trong suốt kỳ đầu tư 36 tháng; hạng Cân bằng tối thiểu 105 ngày trong kỳ 60 tháng.

Hạng Cân bằng có một cơ chế mua bớt ngày, và bảng của cơ quan có bốn dòng: 10 triệu NZD là 105 ngày, 11 triệu là 91 ngày, 12 triệu là 77 ngày, 13 triệu là 63 ngày.

Cứ mỗi 1 triệu NZD đầu tư thêm vào các khoản thuộc hạng Tăng trưởng, không tính khoản từ thiện, được giảm 14 ngày, và mức giảm tối đa là 42 ngày — nên 13 triệu là điểm dừng của cơ chế ấy chứ không phải điểm giữa.

Hai điều kiện đi kèm mà bảng giá không hiện: Khoản vốn thêm phải được khai trước khi hồ sơ được chấp thuận về nguyên tắc, nên không khai bù sau được; và cơ quan kiểm lại rằng khoản thêm ấy vẫn nằm đầu tư suốt kỳ 60 tháng, nên đây là một cam kết dài đúng bằng cam kết gốc chứ không phải một khoản trả một lần.

Ngoài số ngày còn hai nghĩa vụ giữ tư cách mà việc bỏ qua có hậu quả thật: Phải cung cấp địa chỉ cùng thông tin liên hệ và phải báo khi thay đổi, vì cơ quan nói rõ họ cần liên lạc để kiểm việc đáp ứng điều kiện — và nếu không xác nhận được thì người giữ có thể không được ở lại.

Và muốn đi lại thì thị thực phải nằm trong một hộ chiếu còn hiệu lực: Hộ chiếu hết hạn thì phải làm thủ tục chuyển thị thực sang hộ chiếu mới, có thu phí, trước khi bay.

Người phụ thuộc được kèm

Phạm vi gồm bạn đời và con phụ thuộc từ 24 tuổi trở xuống, nhưng điều đáng đọc nhất là ở diện này việc đưa người nhà vào hồ sơ có lúc không phải quyền chọn mà là nghĩa vụ.

Cơ quan ghi rõ: Nếu bạn đời hoặc con phụ thuộc đang có, hoặc đã xin, một thị thực tạm trú New Zealand dựa trên quan hệ với đương đơn, thì bắt buộc phải đưa họ vào hồ sơ thường trú.

Bỏ họ ra ngoài không phải một lựa chọn hợp lệ. Chứng cứ theo từng quan hệ: Với bạn đời phải chứng minh quan hệ thật và bền vững và đã sống chung tối thiểu 12 tháng; với con thì gồm giấy khai sinh, giấy tờ về quyền trông giữ nếu có, và riêng con từ 21 đến 24 tuổi phải chứng minh vẫn đang phụ thuộc tài chính vào đương đơn.

Mỗi người được đưa vào hồ sơ phải tự điền bản khai của người xin thường trú, mẫu INZ 1242.

Một lối mở cho về sau mà ít bản chào nhắc: Con phụ thuộc phát sinh thêm và không có trong hồ sơ gốc — cơ quan nêu thẳng ví dụ trẻ mới sinh — vẫn được bảo lãnh xin thường trú sau khi hồ sơ đã được chấp thuận về nguyên tắc, bằng diện Thị thực Thường trú cho Con Phụ thuộc.

Và một hạn chót có hậu quả nặng: Người nhà đã nằm trong thị thực phải tới New Zealand trong vòng 12 tháng kể từ khi thị thực của họ được cấp — quá hạn thì họ phải xin thường trú lại từ đầu, không phải xin gia hạn.

Số nước miễn thị thực

Tư cách mà chương trình này cấp, dù là thị thực hay thẻ cư trú, không thay hộ chiếu của người giữ. Người giữ vẫn đi lại bằng hộ chiếu của nước mình, nên con số dưới đây là của hộ chiếu New Zealand và chỉ trở thành của người giữ khi họ được cấp hộ chiếu New Zealand.

Theo Passport Index của Prosperous Intelligence, dữ liệu ngày 30/09/2026, hộ chiếu New Zealand tới được 196 điểm đến mà không cần xin thị thực lãnh sự trước. Con số ấy gộp ba hình thức nhập cảnh và không tính thị thực điện tử phải xin trước:

Hình thức nhập cảnhSố điểm đến
Miễn thị thực157
Thị thực cấp tại cửa khẩu32
Giấy phép du lịch điện tử (eTA)7
Cộng, là con số của Passport Index196
Thị thực điện tử phải xin trước, không cộng34

Vì vậy đây là thước đo mức đi lại thuận tiện, không phải số nước miễn thị thực theo nghĩa hẹp.

Để đối chiếu, cùng nguồn và cùng cách đếm, hộ chiếu Việt Nam tới được 44 điểm đến. Hai danh sách điểm đến không lồng vào nhau, nên hiệu số chỉ là chỉ dấu chứ không phải danh sách những nơi được mở thêm.

Prosperous Intelligence ghi ngày cho dữ liệu và khuyến nghị xác minh với cơ quan chính thức của nước đến trước khi đi.

Nghĩa vụ thuế phát sinh

Cơ quan di trú không đặt một quy tắc thuế nào cho diện này: Trang của diện có nhắc tới thuế, nhưng không chỗ nào là một quy tắc thuế.

Những chỗ nhắc tới thuế rơi vào ba vai khác nhau, và phân biệt được ba vai mới đọc đúng ô này.

Vai thứ nhất là cảnh báo kèm lời khuyên: Cơ quan nói đầu tư vào New Zealand có thể kéo theo hệ quả thuế và khuyến nghị đương đơn tự tìm tư vấn thuế chuyên nghiệp, rồi trỏ sang hướng dẫn chung về cư trú thuế của Sở Thuế vụ ở phần thuế quốc tế dành cho cá nhân — tức chính cơ quan di trú tự nhận đây không phải phần việc của mình.

Vai thứ hai là điều kiện nhân thân: Để được coi là người phù hợp và đứng đắn, mọi doanh nghiệp mà đương đơn từng tham gia phải đã tuân thủ đầy đủ pháp luật về di trú, lao động và thuế — ở đây thuế là một phép thử về quá khứ, không phải một nghĩa vụ tương lai.

Vai thứ ba ít ai để ý và nó đảo chiều cách dùng giấy tờ thuế: Tờ khai thuế hoặc giấy chứng nhận thuế nằm trong danh mục bằng chứng được chấp nhận để chứng minh nguồn vốn hợp pháp. Nghĩa là ở diện này giấy tờ thuế đóng vai bằng chứng về xuất xứ tiền chứ không phải căn cứ tính một khoản phải nộp.

Ai cần biết nghĩa vụ thuế thật thì phải mở hệ nguồn của Sở Thuế vụ, không phải trang này.

Chi phí bắt buộc ngoài khoản đầu tư

Con số công bố là một mức sàn chứ không phải một mức trọn gói: Cơ quan ghi từ 27.470 NZD, và không in bảng tách các thành phần, nên người tính chi phí không biết phần nào là lệ phí hồ sơ và phần nào là khoản thu khác.

Ngoài khoản ấy, ba nhóm giấy tờ bắt buộc đều phải trả tiền mà không nằm trong con số đó. Thứ nhất là sức khoẻ: Phải có phiếu chụp X-quang ngực và một lần khám sức khoẻ làm bằng chứng về tình trạng sức khoẻ tốt.

Thứ hai là nhân thân, và điều kiện của diện này rộng hơn các diện khác của cùng nước nên rất dễ tính thiếu.

Người từ mười bảy tuổi trở lên, kể cả mọi người khác có tên trong hồ sơ chứ không riêng đương đơn chính, phải nộp phiếu lý lịch tư pháp của mọi nước mình mang quốc tịch, cộng mọi nước đã ở từ mười hai tháng trở lên trong mười năm gần nhất.

Cơ quan nói rõ mười hai tháng ấy không cần liền một mạch, mà cộng dồn nhiều lần ở cũng tính.

Các phiếu ấy phải còn dưới sáu tháng tính tại ngày nộp hồ sơ, nên một bộ hồ sơ chuẩn bị kéo dài sẽ phải xin lại. Thứ ba là dịch thuật: Phiếu lý lịch tư pháp không phải tiếng Anh phải kèm bản dịch. Ngoài ra mỗi người trong hồ sơ cần hai ảnh đạt chuẩn chụp phần đầu và vai.

Lựa chọn đầu tư

Lựa chọn Ngưỡng Loại hình Trạng thái
Nhóm Tăng trưởng, giữ tối thiểu 36 tháng 5.000.000 NZD Doanh nghiệp Đang mở
Nhóm Cân bằng, giữ tối thiểu 60 tháng 10.000.000 NZD Khác Đang mở

Bản tin hàng tuần

Bản tin về đầu tư quốc tịch, dòng vốn và dịch chuyển toàn cầu sẽ được gửi hàng tuần. Quý độc giả vui lòng để lại địa chỉ thư điện tử để nhận bản tin mới nhất.