24/10/2026 · Việt Nam EN

Citizenship · Capital · Global Mobility

The Legation Times

Không phải công dân, sống ngoài Hoa Kỳ, thuế di sản tính từ 60.000 USD

Edward Nguyen Edward Nguyen
Một cặp vợ chồng người châu Á lớn tuổi ngồi trên sofa, mỉm cười xem giấy tờ, trước mặt là máy tính bỏ túi và một lọ tiền xu trên bàn kính

Công dân và người có nơi gắn bó pháp lý lâu dài tại Hoa Kỳ được miễn 15 triệu USD. Nhật Bản, Hàn Quốc đánh thuế tới 55%, 50%, Vương quốc Anh 40% trên tài sản người ở Việt Nam để lại đó. Úc đã bỏ thuế thừa kế.

Khi một người sống ở Việt Nam qua đời và để lại tài sản ở nước ngoài, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Hàn Quốc và Vương quốc Anh đều đánh thuế ít nhất là phần tài sản nằm trên lãnh thổ nước mình; Úc đã bãi bỏ toàn bộ thuế thừa kế từ năm 1982.

Video · 0:50Xem bản tin video dưới một phútKhi một người sống ở Việt Nam qua đời và để lại tài sản ở nước ngoài, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Hàn Quốc và Vương quốc Anh đều đánh thuế phần tài sản nằm trên lãnh thổ nước mình. Úc đã bỏ thuế thừa kế từ năm 1982.

Tại Hoa Kỳ, mức miễn trừ phụ thuộc vào tư cách của người qua đời: Di sản của người không có quốc tịch Hoa Kỳ và không có nơi gắn bó pháp lý lâu dài tại đó chỉ được một khoản khấu trừ thuế bằng số thuế tính trên 60.000 USD đầu tiên của di sản chịu thuế tại Hoa Kỳ, trong khi công dân và người có nơi gắn bó pháp lý lâu dài tại Hoa Kỳ qua đời trong năm 2026 được miễn trừ 15 triệu USD.

Tài sản nằm ở đâu, nước đó đánh thuế

Bảng dưới đây giả định người qua đời sống ở Việt Nam, không phải công dân cũng không phải người cư trú dài hạn của nước liên quan; riêng với Nhật Bản, giả định thêm rằng những người thừa kế sống ngoài Nhật Bản hoặc là người cư trú tạm thời tại đó. Người thừa kế là cá nhân cư trú tại Việt Nam còn có thể phải nộp thuế Việt Nam trên cùng khoản thừa kế.

Quốc gia Thuế đánh vào tài sản tại nước sở tại Thuế suất Mức miễn trừ Thời hạn
Hoa Kỳ Thuế di sản liên bang 18% đến 40% (26% đến 40% sau khoản khấu trừ thuế) Khoản khấu trừ thuế bằng số thuế tính trên 60.000 USD 9 tháng (khai và nộp)
Nhật Bản Thuế thừa kế, do người thừa kế nộp 10% đến 55% 30 triệu yên cộng 6 triệu yên cho mỗi người thừa kế theo pháp luật 10 tháng (khai và nộp)
Hàn Quốc Thuế thừa kế 10% đến 50% 200 triệu won 9 tháng kể từ cuối tháng người để lại di sản qua đời (tờ khai)
Vương quốc Anh Thuế thừa kế 40% 325.000 bảng Anh, cộng tối đa 175.000 bảng Anh cho ngôi nhà tại Anh mà người qua đời từng sống và để lại cho con cháu Cuối tháng thứ sáu (nộp thuế)
Úc Không có; thuế cấp bang cuối cùng bị bãi bỏ năm 1982 — — —

Hoa Kỳ: Khoản khấu trừ thuế 13.000 USD tương ứng 60.000 USD di sản

Thuế di sản liên bang (estate tax) áp dụng cho di sản của bất kỳ người nào “không cư trú, không phải công dân Hoa Kỳ”, nhưng chỉ với phần nằm tại Hoa Kỳ: Bất động sản tại Hoa Kỳ, tài sản hữu hình đặt tại đó và cổ phần của công ty Hoa Kỳ, bất kể chứng chỉ cổ phần được giữ ở đâu.

Theo luật, cổ phần của công ty ngoài Hoa Kỳ nằm ngoài phạm vi này; tiền gửi tại ngân hàng Hoa Kỳ không gắn với hoạt động thương mại, kinh doanh tại Hoa Kỳ cũng vậy. Khả năng Sở Thuế vụ Hoa Kỳ (IRS) bỏ qua lớp công ty nước ngoài nắm giữ bất động sản tại Hoa Kỳ chưa được xem xét.

Biểu thuế suất là biểu áp dụng cho công dân, từ 18% đến 40%; mức miễn trừ thì khác. Di sản được một khoản khấu trừ thuế 13.000 USD, đúng bằng số thuế mà biểu thuế tính trên 60.000 USD, nên phần di sản chịu thuế vượt mức này chịu thuế từ 26%, tăng lên 40% với phần trên 1 triệu USD. Áp dụng biểu thuế đó và khoản khấu trừ thuế này, một khối di sản chịu thuế tại Hoa Kỳ trị giá 1 triệu USD sẽ phải nộp 332.800 USD.

Theo hướng dẫn của IRS, trừ khi hiệp định quy định khác, khoản giảm trừ cho vợ hoặc chồng chỉ được áp dụng nếu người vợ hoặc chồng còn sống là công dân Hoa Kỳ, hoặc tài sản được chuyển vào một quỹ tín thác nội địa đủ điều kiện (QDOT).

Người thi hành di chúc phải nộp tờ khai mẫu 706-NA và nộp thuế trong vòng 9 tháng kể từ ngày người để lại di sản qua đời khi tài sản tại Hoa Kỳ cộng một số khoản tặng cho khi còn sống vượt 60.000 USD, ngưỡng mà IRS cho biết không được điều chỉnh theo lạm phát.

Với công dân và người cư trú, thuế áp dụng cho toàn bộ di sản, dù tài sản nằm ở đâu, với mức miễn trừ cơ bản 15 triệu USD cho người qua đời trong năm 2026, theo mục 70106 của Luật Công số 119-21 (Public Law 119-21), được ký ngày 4/7/2025.

Danh sách hiệp định về thuế di sản và thuế quà tặng của IRS có Úc, Nhật Bản và Vương quốc Anh, không có Việt Nam.

Với thuế di sản, người cư trú là người có nơi gắn bó pháp lý lâu dài (domicile) tại Hoa Kỳ, tức sống tại đó mà hiện không có ý định rõ ràng sẽ rời đi. Phép thử thẻ xanh tại mục 7701(b) áp dụng cho Bộ luật Thuế vụ “ngoại trừ phân mục B”, là phân mục quy định thuế di sản và thuế quà tặng.

IRS lưu ý rằng một người có thể là người cư trú về thuế thu nhập nhưng lại là người không cư trú về thuế di sản. Điều này cho thấy chỉ riêng thẻ xanh không làm người giữ thẻ có nơi gắn bó pháp lý lâu dài tại Hoa Kỳ; người giữ thẻ sống tại Hoa Kỳ mà hiện không có ý định rõ ràng sẽ rời đi thì đáp ứng phép thử này và thuộc nhóm được miễn trừ 15 triệu USD.

Diện EB-5 và thẻ xanh có điều kiện được trình bày trong một bài riêng.

Việc tặng cho bất động sản và tài sản hữu hình tại Hoa Kỳ chịu thuế quà tặng theo cùng biểu thuế, còn tặng cho cổ phần Hoa Kỳ thì không. Mức miễn trừ hằng năm là 19.000 USD cho mỗi người nhận trong năm 2026, và khoản khấu trừ thuế quà tặng trọn đời tại mục 2505 được dành cho công dân hoặc người cư trú.

Như vậy, khi một người không cư trú tặng một ngôi nhà tại Hoa Kỳ, phần giá trị vượt mức miễn trừ hằng năm đó chịu thuế.

Các bang có thể đánh thuế riêng. New York, bang duy nhất được kiểm tra khi viết bài này, yêu cầu nộp tờ khai đối với di sản của người không cư trú tại bang này nếu di sản gồm bất động sản hoặc tài sản hữu hình tại New York và tổng di sản theo luật liên bang, cộng một số khoản tặng cho, vượt 7,35 triệu USD với người qua đời trong năm 2026.

Nhật Bản: Tư cách của người thừa kế cũng quyết định

Nhật Bản đánh thuế người thừa kế, và phạm vi đánh thuế phụ thuộc vào cả người thừa kế lẫn người để lại di sản. Người không có quốc tịch Nhật Bản và không có nơi cư trú tại Nhật Bản khi qua đời là “người để lại di sản không cư trú”.

Cơ quan Thuế quốc gia Nhật Bản nêu rằng người thừa kế sống ở nước ngoài và không có địa chỉ tại Nhật Bản chỉ chịu thuế với tài sản ở Nhật Bản. Điều này cho thấy các ngoại lệ của quy định này không áp dụng cho người thừa kế là người Việt Nam sống ở Việt Nam, nhận di sản của cha mẹ cũng sống ở Việt Nam.

Bất động sản được coi là nằm ở nơi tọa lạc, tiền gửi ở chi nhánh nhận tiền gửi, cổ phần ở trụ sở chính của công ty phát hành.

“Người cư trú tạm thời” là người mang một tư cách lưu trú thuộc Bảng phụ lục I của Luật Quản lý xuất nhập cảnh, chẳng hạn diện quản lý kinh doanh, và có tổng thời gian cư trú tại Nhật Bản từ 10 năm trở xuống trong 15 năm gần nhất. Luật Thuế thừa kế không đánh thuế người thừa kế như vậy trên khoản thừa kế ở mọi nơi khi người qua đời là “người để lại di sản không cư trú”.

Như vậy, một nhà đầu tư Việt Nam sống tại Nhật Bản theo tư cách lưu trú đó, nhận thừa kế từ cha mẹ ở Việt Nam, chỉ nộp thuế Nhật Bản với tài sản ở Nhật Bản; còn thường trú nhân, có tư cách lưu trú thuộc Bảng phụ lục II, không thể là người cư trú tạm thời và chịu thuế với khoản thừa kế ở mọi nơi.

Sau khoản giảm trừ cơ bản 30 triệu yên cộng 6 triệu yên cho mỗi người thừa kế theo pháp luật, thuế suất từ 10% đến 55% (với phần trên 600 triệu yên) được áp dụng cho phần thừa kế theo pháp luật giả định của từng người, rồi tổng số thuế được phân bổ theo tỷ lệ phần mỗi người thực nhận.

Người thừa kế không phải vợ hoặc chồng hay người thân huyết thống bậc một (cha mẹ, con), chẳng hạn anh chị em, nộp thêm 20%. Tờ khai và tiền thuế đến hạn trong vòng 10 tháng kể từ ngày tiếp theo ngày người thừa kế biết về việc người để lại di sản qua đời; người thừa kế không có địa chỉ tại Nhật Bản khai và nộp qua người quản lý thuế.

Theo đề cương cải cách thuế năm tài khóa 2026 của Chính phủ Nhật Bản, một số bất động sản cho thuê được mua hoặc xây trong vòng 5 năm trước khi người để lại di sản qua đời sẽ được định giá theo giá giao dịch thông thường, áp dụng cho tài sản nhận thừa kế từ ngày 1/1/2027.

Hàn Quốc: Chỉ có khoản giảm trừ cơ bản

Hàn Quốc đánh thuế theo nơi người để lại di sản sinh sống. Theo Luật Thuế thừa kế và thuế quà tặng, bản có hiệu lực từ ngày 2/1/2026, toàn bộ di sản của người cư trú chịu thuế, còn với người không cư trú thì chỉ tài sản tại Hàn Quốc; người cư trú là người có nơi cư trú tại Hàn Quốc hoặc có chỗ ở tại đó từ 183 ngày trở lên.

Khi người không cư trú qua đời, ngoài các khoản phải nộp cho nhà nước và nợ được bảo đảm bằng tài sản tại Hàn Quốc hoặc gắn với cơ sở kinh doanh tại Hàn Quốc, chỉ có khoản giảm trừ cơ bản 200 triệu won. Khoản giảm trừ cho vợ hoặc chồng, tối thiểu 500 triệu won, khoản giảm trừ trọn gói 500 triệu won và các khoản giảm trừ nhân thân khác chỉ áp dụng khi người qua đời là người cư trú.

Thuế suất từ 10% đến 50% với phần trên 3 tỷ won, theo Cơ quan Thuế quốc gia Hàn Quốc. Tờ khai đến hạn 6 tháng kể từ cuối tháng người để lại di sản qua đời, hoặc 9 tháng nếu người để lại di sản hay bất kỳ người thừa kế nào có nơi cư trú ở nước ngoài.

Một dự luật của Chính phủ nhằm đánh thuế từng người thừa kế trên phần người đó nhận, dự luật số 2210618, được trình ngày 28/5/2025 và vẫn nằm ở ủy ban, chưa có cuộc biểu quyết nào được ghi nhận tính đến ngày 10/10/2026. Dự luật này không phải là luật.

Vương quốc Anh: 10 năm cư trú thay đổi phạm vi đánh thuế

Từ ngày 6/4/2025, thuế thừa kế của Vương quốc Anh dựa vào cư trú dài hạn thay vì nơi gắn bó pháp lý lâu dài. Người cư trú dài hạn tại Vương quốc Anh, tức người cư trú tại Anh ít nhất 10 trong 20 năm tính thuế trước năm qua đời, chịu thuế với tài sản ở mọi nơi và vẫn thuộc phạm vi đánh thuế từ 3 đến 10 năm tính thuế sau khi rời Anh.

Người sống ở Việt Nam chưa từng là người cư trú dài hạn chỉ chịu thuế với tài sản tại Anh, như bất động sản tại Anh, tài khoản mở tại chi nhánh ở Anh và cổ phần đăng ký tại Anh. Tuy nhiên, tài khoản bằng đồng tiền khác bảng Anh được loại trừ khi chủ tài khoản qua đời, nếu ngay trước đó người này không phải người cư trú cũng không phải người cư trú dài hạn tại Anh.

Khi cả hai vợ chồng đều không phải người cư trú dài hạn, sổ tay hướng dẫn của Cơ quan Thuế và Hải quan Anh (HMRC) coi khoản miễn thuế giữa vợ và chồng được áp dụng toàn bộ.

Công ty, hợp danh, quỹ tín thác ở nước ngoài hay khoản vay đều không đưa được ngôi nhà tại Anh ra khỏi phạm vi đánh thuế. Theo Phụ lục A1 của Luật Thuế thừa kế năm 1984, cổ phần trong một công ty đóng (close company) ở nước ngoài chịu thuế theo phần giá trị bắt nguồn từ nhà ở tại Anh; các khoản vay dùng để mua, duy trì hoặc cải tạo nhà ở đó cũng vậy.

Ví dụ của HMRC là một công ty ở Jersey có tài sản duy nhất là một căn hộ ở London. Phần sở hữu dưới 5%, tính cả phần của người có liên quan, nằm ngoài quy định này; từ ngày 6/4/2026, quy định còn áp dụng cho đất nông nghiệp tại Anh. Cách quỹ tín thác xuyên biên giới nắm giữ tài sản gia đình được trình bày trong một bài riêng.

Thuế suất là 40% trên phần vượt ngưỡng chịu thuế suất 0% (nil-rate band) 325.000 bảng Anh. Một ngưỡng bổ sung 175.000 bảng Anh cho nhà ở chỉ áp dụng cho ngôi nhà người qua đời từng sống, để lại cho con hoặc cháu, và với người không sinh sống tại Anh thì chỉ áp dụng cho nhà ở tại Anh; nhà mua để cho thuê mà người đó chưa từng ở không đủ điều kiện, và ngưỡng này giảm dần với di sản trên 2 triệu bảng Anh.

Hai ngưỡng này cùng mốc giảm dần 2 triệu bảng Anh, vốn đã được giữ nguyên đến ngày 5/4/2030, tiếp tục được giữ nguyên đến ngày 5/4/2031 theo Điều 72 của Dự luật Tài chính (số 2), dự luật đã được Nhà vua phê chuẩn thành Luật Tài chính năm 2026 ngày 18/3/2026, theo hồ sơ của Quốc hội Anh. Văn bản được đọc khi viết bài này là dự luật, không phải văn bản luật đã ban hành.

Thuế đến hạn nộp vào cuối tháng thứ sáu sau tháng người để lại di sản qua đời. Trong 10 hiệp định về thuế thừa kế của Vương quốc Anh, không có hiệp định nào với Việt Nam.

Úc: Không có thuế thừa kế, chỉ một sự kiện thuế lãi vốn

Úc “không đánh thuế di sản, thuế thừa kế hay thuế quà tặng”, theo một báo cáo rà soát của Bộ Ngân khố Úc năm 2008; Ủy ban Năng suất ghi nhận thuế thừa kế cấp bang cuối cùng đã bị bãi bỏ năm 1982. Khoản lãi vốn phát sinh với một tài sản khi chủ sở hữu qua đời được bỏ qua, không tính thuế.

Người thừa kế tiếp nhận giá vốn của người để lại di sản đối với bất động sản tại Úc mua từ ngày 20/9/1985, nhưng khi người để lại di sản là người không cư trú tại Úc, những tài sản không thuộc nhóm “tài sản chịu thuế tại Úc” (taxable Australian property), chẳng hạn cổ phần đầu tư danh mục, được chuyển sang theo giá thị trường.

Ngoại lệ là sự kiện thuế lãi vốn K3: Người cư trú tại Úc qua đời để lại cho người thụ hưởng không cư trú tại Úc một tài sản không thuộc nhóm tài sản chịu thuế tại Úc; nhóm này bao gồm bất động sản tại Úc, nên bất động sản nằm ngoài K3.

Khi đó, khoản lãi được đưa vào tờ khai thuế tính đến ngày qua đời của người để lại di sản, chẳng hạn khi cha mẹ đã trở thành người cư trú tại Úc để lại cổ phần đầu tư danh mục cho con sống ở Việt Nam.

Điều này cho thấy K3 không thể phát sinh với chủ sở hữu chưa từng cư trú tại Úc, nhưng bất động sản tại Úc vẫn thuộc diện chịu thuế lãi vốn khi người thừa kế bán, và khoản miễn thuế nơi ở chính dành cho di sản không áp dụng khi người để lại di sản đã liên tục không cư trú tại Úc hơn 6 năm tính đến lúc qua đời.

Lớp thuế tại Việt Nam

Theo Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 (được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 09/2026/QH16), có hiệu lực từ ngày 1/7/2026, cá nhân cư trú nộp thuế 10% trên phần giá trị vượt 20 triệu đồng theo từng lần nhận thừa kế là chứng khoán, phần vốn trong các tổ chức kinh tế, cơ sở kinh doanh, bất động sản và các tài sản phải đăng ký sở hữu hoặc đăng ký sử dụng.

Thu nhập từ nhận thừa kế bất động sản giữa vợ với chồng, cha mẹ với con (kể cả cha mẹ nuôi, cha mẹ vợ, cha mẹ chồng), ông bà với cháu, và anh chị em ruột được miễn thuế. Cá nhân cư trú chịu thuế với thu nhập phát sinh trong và ngoài lãnh thổ Việt Nam.

Điều này cho thấy quy định này đưa cổ phần hay bất động sản ở nước ngoài được thừa kế vào diện chịu thuế, dù không văn bản nào nói rõ như vậy, và khi đó khoản miễn thuế giữa người thân cũng bao gồm bất động sản ở nước ngoài.

Nghị định 253/2026/NĐ-CP định giá tài sản thừa kế theo các căn cứ trong nước như giá tham chiếu trên Sở Giao dịch chứng khoán và bảng giá đất của tỉnh, mà không nói một ngôi nhà ở Osaka được để lại cho người ngoài nhóm người thân đó sẽ được định giá ra sao.

Cá nhân không cư trú chỉ chịu thuế với khoản thừa kế “tại Việt Nam”; cách xác định cư trú thuế được trình bày trong một bài riêng.

Không hiệp định nào được đọc khi viết bài này giúp tránh được việc đánh thuế trùng này. Các hiệp định của Việt Nam với Nhật Bản, Hàn Quốc, Vương quốc Anh và Úc áp dụng cho thuế thu nhập, riêng hiệp định với Vương quốc Anh có thêm thuế đối với lãi vốn.

Điều khoản trừ thuế của Nghị định 253/2026, khoản 3 Điều 6, cho phép trừ số thuế thu nhập cá nhân đã nộp tại nước đã ký Hiệp định tránh đánh thuế hai lần với Việt Nam và không nói gì về thuế di sản hay thuế thừa kế ở nước ngoài.

Các quy định của pháp luật dân sự Việt Nam về việc ai được thừa kế được bàn trong một bài riêng; bài tổng quan về thừa kế xuyên biên giới nói về phần hoạch định.

Những điều bài viết này chưa xác lập

Chưa xác lập được Việt Nam trên thực tế có đánh thuế khoản thừa kế tài sản ở nước ngoài của cá nhân cư trú hay không, các tài sản đó được định giá và xác định thời điểm tính thuế ra sao, hoặc thuế di sản hay thuế thừa kế đã nộp ở nước ngoài có được trừ vào thuế Việt Nam hay không.

Ở Hoa Kỳ, chỉ bang New York được kiểm tra, Bộ luật Hoa Kỳ được đọc ở bản năm 2024, trước Luật Công số 119-21, và việc IRS bỏ qua lớp công ty nước ngoài chưa được xem xét.

Chưa tìm thấy danh sách hiệp định về thuế thừa kế của Nhật Bản hay Hàn Quốc. Với Nhật Bản, chưa xác lập được cách tính thời gian cư trú trên thực tế, cách xác định số người thừa kế theo pháp luật khi người để lại di sản là người nước ngoài, cách xử lý với vợ hoặc chồng còn sống, hay văn bản cuối cùng về định giá bất động sản cho thuê.

Thuế suất của Hàn Quốc lấy từ hướng dẫn của cơ quan thuế, vì biểu thuế trong luật được đăng dưới dạng hình ảnh. Văn bản luật của Vương quốc Anh chưa được đọc.

Các trang của Cơ quan Thuế vụ Úc không mở được, mốc áp dụng quy tắc 6 năm chưa xác lập được, và các khoản thuế, phí cấp bang của Úc khi chuyển tài sản cho người thừa kế chưa được kiểm tra.

Ảnh đầu bài: Magnific.

The Legation Times biên soạn nội dung từ tài liệu đã công bố; nội dung tại đây không phải tư vấn pháp lý, tư vấn thuế hay khuyến nghị đầu tư. Trường hợp quý độc giả phát hiện ra sai sót, kính mời quý độc giả gửi yêu cầu đính chính. Với trường hợp liên quan đến quyền sử dụng nội dung, hãy thực hiện gửi yêu cầu gỡ bỏ.

Đọc thêm

Bản tin hàng tuần

Bản tin về đầu tư quốc tịch, dòng vốn và dịch chuyển toàn cầu sẽ được gửi hàng tuần. Quý độc giả vui lòng để lại địa chỉ thư điện tử để nhận bản tin mới nhất.