Thị thực nhà đầu tư Nigeria: 5 diện thuộc nhóm thường trú, không tự mang lại quốc tịch

Cơ quan Di trú Nigeria nêu yêu cầu nộp hồ sơ quốc tịch riêng. Theo Điều 27 Hiến pháp, ngay trước khi nộp đơn phải cư trú 15 năm liên tục hoặc 12 tháng liên tục cộng ít nhất 15 năm trong 20 năm liền trước 12 tháng đó.
Cơ quan Di trú Nigeria xếp các diện thị thực dành cho nhà đầu tư, mang mã N3A–N3E, vào danh mục thị thực thường trú. Theo phần giải đáp của cơ quan này, bản thân những thị thực đó không mang lại quốc tịch Nigeria. Người muốn trở thành công dân phải nộp hồ sơ quốc tịch riêng và đáp ứng các yêu cầu của Hiến pháp.
Cơ quan Di trú Nigeria công bố những diện nào?
Danh mục các diện thị thực thường trú gồm 6 nhóm. N1A dành cho vợ hoặc chồng của công dân Nigeria. N2A và N2B dành cho công dân Nigeria do sinh ra đã từ bỏ quốc tịch, cùng vợ hoặc chồng của họ. N4A dành cho người nhập cư có kỹ năng cao. N5A và N5B là các diện thị thực hưu trí. N6A–N6D dành cho vợ, chồng và người phụ thuộc của người giữ thị thực thường trú.
Các diện dành cho nhà đầu tư nằm ở nhóm thứ 3, với mã N3A–N3E. Phần mô tả lần lượt nêu quy mô nhỏ, vừa, lớn, siêu lớn và lĩnh vực dầu khí, điện năng. Trên trang này, cả 5 diện đều thuộc nhóm thị thực thường trú.
Trang không công bố ngưỡng đầu tư cho bất kỳ diện N3 nào.
Cơ quan này giải thích thế nào về quốc tịch?
Khi trả lời trực tiếp câu hỏi liệu thị thực thường trú có dẫn đến quốc tịch Nigeria hay không, Cơ quan Di trú Nigeria đưa ra 3 câu giải thích. Quá trình xin quốc tịch đòi hỏi thời gian cư trú tối thiểu, tư cách đạo đức tốt và các điều kiện khác theo Hiến pháp. Người xin quốc tịch vẫn phải nộp hồ sơ riêng cho cơ quan có thẩm quyền. Một số diện nhà đầu tư đủ điều kiện nộp đơn sau khi đáp ứng những tiêu chí nhất định; các ví dụ được nêu là cư trú hợp pháp liên tục trong 15 năm hoặc đạt một số mức đầu tư nhất định.
Câu thứ 3 là phần thiếu cụ thể nhất trên cả hai trang. Cơ quan này chỉ nêu các tiêu chí dưới dạng ví dụ, không dẫn tên văn bản nào và không gắn con số với cụm “một số mức đầu tư nhất định”. Nội dung đó chưa đủ để xác lập một con đường có quốc tịch dựa trên đầu tư, cũng không giải thích mức đầu tư nào sẽ đủ điều kiện. Tuy nhiên, cũng không thể từ đó kết luận rằng không có quy định nào về những mức đầu tư như vậy. Trang này đơn giản là không cung cấp thông tin đó.
Hai trang này xếp thị thực nhà đầu tư vào nhóm thường trú. Đồng thời, cơ quan này nêu rõ việc có quốc tịch đòi hỏi hồ sơ riêng và đáp ứng các yêu cầu của Hiến pháp.
Hiến pháp đặt ra những điều kiện gì?
Chương III quy định 3 cách trở thành công dân Nigeria. Điều 25 quy định về tư cách công dân do sinh ra dựa trên mối quan hệ với cha, mẹ, ông hoặc bà, với các quy định gắn với mốc độc lập ngày 1/10/1960.
Điều 26 giới hạn việc có quốc tịch theo thủ tục đăng ký ở 2 nhóm. Nhóm thứ nhất là phụ nữ đang hoặc từng kết hôn với công dân Nigeria. Nhóm thứ hai là người thành niên sinh ngoài Nigeria, có ông hoặc bà là công dân Nigeria. Điều này còn đặt ra yêu cầu về tư cách đạo đức, ý định cư trú và tuyên thệ. Nhà đầu tư không có một trong hai mối liên hệ trên không thể sử dụng Điều 26.
Với nhà đầu tư đó, con đường còn lại là nhập quốc tịch. Người nộp đơn phải gửi đơn tới Tổng thống và chứng minh để Tổng thống chấp thuận rằng mình đã thành niên, có đầy đủ năng lực pháp lý, có tư cách đạo đức tốt, có ý định rõ ràng lấy Nigeria làm nơi cư trú lâu dài và đáp ứng yêu cầu về lời tuyên thệ trung thành.
Hai điều kiện khác liên quan đến khả năng hòa nhập tại địa phương và đóng góp cho đất nước. Theo đánh giá của Thống đốc bang nơi người nộp đơn đang sống hoặc dự định sinh sống, người đó phải được cộng đồng địa phương chấp nhận và đã hòa nhập với lối sống của người Nigeria tại khu vực đó của Liên bang. Người nộp đơn cũng phải đã có, hoặc có khả năng có, đóng góp hữu ích cho sự phát triển, tiến bộ và phúc lợi của Nigeria.
Điều kiện về thời gian cư trú có 2 phương án. Người nộp đơn phải đã cư trú liên tục tại Nigeria trong 15 năm ngay trước khi nộp đơn. Cách còn lại là đã cư trú liên tục tại Nigeria trong 12 tháng ngay trước khi nộp đơn và, trong 20 năm ngay trước khoảng 12 tháng đó, đã cư trú tại Nigeria tổng cộng ít nhất 15 năm.
Điểm e khoản 2 Điều 27 yêu cầu đóng góp hữu ích cho Nigeria nhưng không ấn định ngưỡng tiền cụ thể. Đây là tiêu chí định tính mà Tổng thống cân nhắc cùng với tư cách đạo đức và đánh giá của Thống đốc bang về khả năng hòa nhập của người nộp đơn.
Quy định về việc giữ hai quốc tịch có ngoại lệ nào?
Cả hai khoản liên quan đều dựa trên cùng một phân biệt pháp lý dễ bị bỏ sót: Người đó có phải là công dân do sinh ra của quốc gia còn lại hay không.
Việc áp dụng khoản 1 chịu sự chi phối của các quy định khác trong Điều 28. Theo khoản này, người không phải là công dân Nigeria do sinh ra sẽ lập tức mất quốc tịch Nigeria khi nhận hoặc giữ quốc tịch của một nước khác mà người đó không phải là công dân do sinh ra.
Khoản 2 cũng giữ nguyên điều kiện phân biệt này. Nếu tại thời điểm được đăng ký hoặc được chấp thuận nhập quốc tịch Nigeria, một người đang là công dân nước khác, việc được đăng ký hoặc nhập quốc tịch đi kèm điều kiện từ bỏ hiệu quả quốc tịch nước đó trong thời hạn không quá 5 tháng. Tuy nhiên, theo văn bản được chép lại trong nguồn đã đọc, điều kiện này chỉ áp dụng nếu người đó không phải là công dân do sinh ra của nước còn lại.
Như vậy, theo câu chữ của quy định, điều kiện từ bỏ quốc tịch nhắm tới quốc tịch nước ngoài mà người nộp đơn giữ theo một căn cứ khác với tư cách công dân do sinh ra. Quốc tịch của nước mà người đó là công dân do sinh ra nằm ngoài điều kiện được nêu tại cả hai khoản.
Đây là cách đọc văn bản, chưa mô tả thực tiễn áp dụng Điều 28 hay cách cơ quan có thẩm quyền kiểm chứng việc “từ bỏ hiệu quả”, tức từ bỏ quốc tịch thực sự có hiệu lực. Cách đọc này cũng không xác định pháp luật nước còn lại cho phép những gì.
Khoản 1 Điều 30 quy định một vấn đề riêng. Tổng thống có thể tước quốc tịch Nigeria của người đã nhập quốc tịch nếu, trong vòng 7 năm sau khi nhập quốc tịch, người đó bị kết án tù ít nhất 3 năm.
Các quy định của Hiến pháp được đọc từ nguồn nào?
Bản hợp nhất chính thức tại Policy and Legal Advocacy Centre được tải xuống dưới dạng tệp PDF gồm 164 trang ảnh quét. Việc trích xuất văn bản trả về 0 ký tự; bản quét này không được dùng để kiểm chứng các quy định.
Nguồn được đọc là văn bản do Constitute Project chép lại, được tải xuống hai lần, gồm bản gốc năm 1999 và bản đã cập nhật các sửa đổi đến lần sửa đổi thứ 5. Điều 27 và Điều 28 giống nhau trong cả hai bản. Tuy nhiên, hai bản đều do cùng một đơn vị biên soạn nên sự trùng khớp này không phải là xác thực độc lập. Câu chữ trong bản hợp nhất chính thức chưa được kiểm chứng.
Bản biên soạn này còn có lỗi chép lại văn bản tại khoản 1 và khoản 2 Điều 27. Vì vậy, nội dung ở đây được diễn giải thay vì trích dẫn nguyên văn.
Những vấn đề nào vẫn chưa được xác định?
Mức đầu tư cần thiết cho từng diện N3 vẫn chưa rõ. Các nguồn đã xem xét không xác định ngưỡng đầu tư của bất kỳ diện nào trong 5 diện này.
Cụm “một số mức đầu tư nhất định” trong phần giải đáp của Cơ quan Di trú Nigeria cũng chưa được làm rõ. Khoảng trống có hệ quả lớn hơn là liệu có văn bản nào quy định thời gian cư trú dành cho nhà đầu tư ngắn hơn thời gian tại Điều 27 hay không. Đạo luật Di trú năm 2015 và Chính sách Thị thực Nigeria năm 2020 chưa được đọc.
Các nguồn đã xem xét cũng chưa xác định cách cơ quan có thẩm quyền thực thi Điều 28 hoặc kiểm chứng việc từ bỏ hiệu quả quốc tịch.
Số người đã nhập quốc tịch theo những quy định này, thời gian xử lý từng bước và các khoản chi phí liên quan đều chưa được xác định.
The Legation Times biên soạn nội dung từ tài liệu đã công bố; nội dung tại đây không phải tư vấn pháp lý, tư vấn thuế hay khuyến nghị đầu tư. Trường hợp quý độc giả phát hiện ra sai sót, kính mời quý độc giả gửi yêu cầu đính chính. Với trường hợp liên quan đến quyền sử dụng nội dung, hãy thực hiện gửi yêu cầu gỡ bỏ.