Hàn Quốc cấp thị thực đầu tư doanh nghiệp D-8 cho nhà đầu tư nước ngoài lập và vận hành một doanh nghiệp có vốn nước ngoài với khoản vốn từ một trăm triệu won trở lên, và chuyên gia thiết yếu do nhà đầu tư ấy cử sang. Người giữ D-8 có bốn tuyến lên thường trú F-5, trong đó tuyến nhà đầu tư lớn đòi từ 500.000 đô la Mỹ và tuyển từ năm người Hàn Quốc, và theo Prosperous Intelligence, hộ chiếu Hàn Quốc, cấp cho công dân chứ không cho người giữ thị thực này, tới được 204 điểm đến không cần xin thị thực lãnh sự trước.
Tổng quan chương trình
- Tên chính thức chương trình: Business Investment (D-8) / Permanent Residence (F-5)
- Website: immigration.go.kr
- Cơ quan quản lý: Korea Immigration Service
Ngưỡng vốn tối thiểu
Ngưỡng của diện đầu tư doanh nghiệp D-8 là một trăm triệu won trở lên, và bản hướng dẫn đặt nó ở đúng chỗ dễ đọc sai.
Số tiền ấy là số vốn của nhà đầu tư nước ngoài đã lập và đang vận hành một doanh nghiệp có vốn nước ngoài tại Hàn Quốc. Còn tấm thị thực D-8 thì cấp cho chuyên gia thiết yếu được nhà đầu tư ấy, hoặc công ty mẹ ở nước ngoài, hoặc chi nhánh và văn phòng nước ngoài của doanh nghiệp có vốn nước ngoài, cử sang.
Bản hướng dẫn định nghĩa chuyên gia thiết yếu rất hẹp: Người điều hành chủ yếu chỉ đạo việc quản trị tổ chức, nắm thẩm quyền rộng trong việc ra quyết định và chỉ chịu sự chỉ đạo, giám sát chung của hội đồng quản trị và cổ đông; hoặc kỹ sư có kinh nghiệm và kiến thức chuyên môn cao được cử sang hỗ trợ kỹ thuật.
Một bậc ngưỡng thứ hai tồn tại song song và cần tách bạch, vì nó không phải điều kiện đủ tư cách mà là điều kiện hưởng ưu đãi.
Thẻ ưu tiên xuất nhập cảnh cấp cho người quản lý trụ sở toàn cầu hoặc trụ sở khu vực châu Á của doanh nghiệp có vốn nước ngoài, và mức vốn tính theo cơ sở đăng ký đầu tư chia theo ngành.
Mức theo ngành là: Chế tạo từ 15 triệu đô la, tài chính và bảo hiểm từ 50 triệu, bán buôn bán lẻ cùng logistics và kho vận từ 5 triệu, nghiên cứu phát triển từ 2 triệu, các ngành còn lại từ 10 triệu.
Điều kiện gia hạn thẻ ấy khoá chặt khoảng cách giữa lời hứa và tiền thật: Số vốn đã thực sự vào phải đạt ít nhất một nửa số đã đăng ký.
Kết quả pháp lý
Thứ được cấp là thị thực đầu tư doanh nghiệp D-8, và điều quan trọng hơn cả tên nó là đường đi tiếp: Bản hướng dẫn của cơ quan cấp nêu bốn tuyến khác nhau từ D-8 lên thường trú F-5, không phải một, và gộp chúng lại là mất chính chỗ có lợi nhất.
Tuyến thường trú chung đòi cư trú tại Hàn Quốc trên năm năm với một trong các tư cách từ D-7 tới D-10, E-1 tới E-7 hoặc F-2 — tức không phải tuyến dành riêng cho nhà đầu tư, và nó vẫn đòi điều kiện kiến thức cơ bản, đáp ứng bằng Chương trình Hội nhập Xã hội trình độ 5 trở lên.
Hai tuyến dành riêng cho nhà đầu tư thì ngắn hơn và được miễn điều kiện kiến thức cơ bản, đổi lại một điều kiện về việc làm. Tuyến nhà đầu tư khởi nghiệp công nghệ: Cư trú trên ba năm với tư cách D-8, đầu tư từ 300 triệu won trở lên và tuyển từ hai người Hàn Quốc.
Tuyến nhà đầu tư lớn: Đầu tư từ 500.000 đô la Mỹ trở lên và tuyển từ năm người Hàn Quốc. Tuyến thứ tư đi vòng qua cư trú F-2 trước: Người đầu tư trên 500.000 đô la và ở trên ba năm với D-8, hoặc người đầu tư trên 300.000 đô la và tuyển từ hai người Hàn Quốc, được chuyển sang F-2 rồi mới lên F-5.
Nói gọn cho người tính kế hoạch: Giữ vốn lâu hơn không phải cách nhanh nhất; tuyển người Hàn Quốc mới là thứ rút ngắn chặng.
Thời gian xử lý công bố
Bản hướng dẫn không công bố thời hạn xét cấp thị thực, và điều nó công bố thay vào đó lại có giá trị thực dụng hơn: Ba thủ tục tại Hàn Quốc được xử lý ngay trong ngày cho người giữ thị thực D-8 — đổi tư cách lưu trú, đăng ký cư trú người nước ngoài và gia hạn thời hạn lưu trú.
Cùng gói ưu đãi ấy còn có luồng xuất nhập cảnh riêng và miễn phí xử lý cho một loạt thủ tục.
Ba mốc bắt buộc mà người giữ phải tự canh, vì quá hạn là vi phạm chứ không phải chậm trễ: Đăng ký cư trú người nước ngoài hoặc khai báo nơi lưu trú trong nước phải hoàn tất trong chín mươi ngày kể từ ngày nhập cảnh, áp cho mọi trường hợp lưu trú dài hạn và thường trú.
Báo thay đổi nơi lưu trú trong mười lăm ngày kể từ khi chuyển đến; và việc đổi nơi làm việc phải báo hoặc xin phép cơ quan quản lý xuất nhập cảnh có thẩm quyền trước, hoặc trong một thời hạn nhất định sau khi đổi.
Về đường đi của hồ sơ, thị thực do người đứng đầu cơ quan đại diện ngoại giao cấp theo thẩm quyền được Bộ trưởng Tư pháp uỷ quyền; loại thị thực nào không được uỷ quyền thì phải xin phê duyệt của Bộ Tư pháp, và đó là chỗ thời gian có thể dài ra mà bản hướng dẫn không đặt số.
Mốc phân loại nền cần nhớ khi đọc mọi con số trên: Lưu trú ngắn hạn là tới chín mươi ngày, lưu trú dài hạn là từ chín mươi mốt ngày trở lên, thường trú thì không giới hạn thời hạn.
Yêu cầu cư trú thực tế
Điều kiện cư trú của diện này gắn vào pháp nhân chứ không vào cá nhân, và đó là khác biệt gốc so với diện đầu tư bất động sản.
Thị thực Đầu tư Doanh nghiệp D-8 cấp cho nhà đầu tư nước ngoài đã thành lập và đang vận hành một doanh nghiệp có vốn nước ngoài tại Hàn Quốc với khoản đầu tư từ một trăm triệu won trở lên.
Thị thực ấy cũng cấp cho những chuyên gia thiết yếu được cử sang từ nhà đầu tư ấy, từ công ty mẹ ở nước ngoài, hay từ chi nhánh hoặc văn phòng ở nước ngoài của doanh nghiệp có vốn nước ngoài đã lập tại Hàn Quốc.
Nghĩa là tư cách cư trú sống hay chết theo doanh nghiệp: Khoản đầu tư còn thì tư cách còn, doanh nghiệp ngừng vận hành thì cơ sở của tư cách mất theo. Về nghĩa vụ hành chính đi kèm việc cư trú, người giữ D-8 thuộc hệ thống đăng ký người nước ngoài, và bản hướng dẫn dành hẳn một phần cho quy trình đăng ký của nhà đầu tư cùng thân nhân.
Đổi lại, cơ quan cấp cho diện này một lối đi riêng: Người giữ D-8 được dùng làn xuất nhập cảnh dành riêng, và bản hướng dẫn còn nêu Thẻ Ưu tiên Xuất nhập cảnh cấp cho người quản lý trụ sở khu vực hoặc trụ sở toàn cầu của một doanh nghiệp có vốn nước ngoài đạt các tiêu chuẩn nhất định.
Người phụ thuộc được kèm
Gia đình của người giữ D-8 không đi bằng một tư cách mà bằng hai, và đọc thiếu một trong hai là kết luận sai về việc ai được sang.
Vợ hoặc chồng và con chưa thành niên đi bằng tư cách đồng hành F-3 — đây chính là đường mà diện đầu tư bất động sản bị loại ra, vì F-3 mở cho người mang các tư cách từ Văn hoá Nghệ thuật D-1 tới Hoạt động Đặc định E-7, và D-8 nằm trong dải ấy.
Hai giới hạn của F-3 định hình cả kế hoạch gia đình: Thời hạn của nó là trong thời gian đi kèm, tức bám vào tư cách người đứng tên chứ không có con số riêng; và F-3 không được phép làm việc, nên vợ hoặc chồng muốn đi làm phải chuyển sang tư cách khác.
Cha mẹ thì không đi bằng F-3, nhưng đi được: Bản hướng dẫn mở tư cách thăm thân F-1 cho cha mẹ, kể cả cha mẹ của vợ hoặc chồng, với người mang D-7 tới D-9 có thu nhập năm trên hai lần GNI của năm trước; người đã lấy bằng đại học trở lên tại Hàn Quốc rồi mới chuyển sang tư cách ấy thì điều kiện hạ xuống còn bằng mức GNI.
Phép thử thu nhập ấy theo người đứng tên đi hết thang: Nó lặp lại nguyên văn khi đã chuyển sang cư trú F-2, và lần nữa khi đã lên thường trú F-5.
Một điều về F-1 phải biết trước khi tính: Người giữ tư cách này về nguyên tắc không đổi được tư cách ngay tại Hàn Quốc, phải xin thị thực tại cơ quan đại diện ở nước ngoài, và rút ngắn được bằng cách xin trước giấy xác nhận cấp thị thực từ cơ quan xuất nhập cảnh trong nước.
Còn một bước nâng hạng ở cuối thang: Khi người đứng tên đã lên thường trú F-5 thì vợ chồng và con chưa thành niên không còn ở F-3 mà được mời sang cư trú F-2. Riêng con sinh tại Hàn Quốc của nhà đầu tư nước ngoài có một mục cấp tư cách lưu trú độc lập.
Số nước miễn thị thực
Tư cách mà chương trình này cấp, dù là thị thực hay thẻ cư trú, không thay hộ chiếu của người giữ. Người giữ vẫn đi lại bằng hộ chiếu của nước mình, nên con số dưới đây là của hộ chiếu Hàn Quốc và chỉ trở thành của người giữ khi họ được cấp hộ chiếu Hàn Quốc.
Theo Passport Index của Prosperous Intelligence, dữ liệu ngày 30/09/2026, hộ chiếu Hàn Quốc tới được 204 điểm đến mà không cần xin thị thực lãnh sự trước. Con số ấy gộp ba hình thức nhập cảnh và không tính thị thực điện tử phải xin trước:
| Hình thức nhập cảnh | Số điểm đến |
|---|---|
| Miễn thị thực | 167 |
| Thị thực cấp tại cửa khẩu | 27 |
| Giấy phép du lịch điện tử (eTA) | 10 |
| Cộng, là con số của Passport Index | 204 |
| Thị thực điện tử phải xin trước, không cộng | 30 |
Vì vậy đây là thước đo mức đi lại thuận tiện, không phải số nước miễn thị thực theo nghĩa hẹp.
Để đối chiếu, cùng nguồn và cùng cách đếm, hộ chiếu Việt Nam tới được 44 điểm đến. Hai danh sách điểm đến không lồng vào nhau, nên hiệu số chỉ là chỉ dấu chứ không phải danh sách những nơi được mở thêm.
Prosperous Intelligence ghi ngày cho dữ liệu và khuyến nghị xác minh với cơ quan chính thức của nước đến trước khi đi.
Nghĩa vụ thuế phát sinh
Chương trình không lập ra chế độ thuế riêng, nhưng khác với diện đầu tư bất động sản, ở diện này cơ quan di trú có chạm tới hồ sơ thuế — và chỗ đo được nằm ở danh mục giấy tờ.
Trên trang dịch vụ công của Chính phủ Hàn Quốc về gia hạn thời gian lưu trú, mục liệt kê những giấy tờ mà cơ quan tự tra thay người dân có ghi giấy chứng nhận nộp thuế quốc gia, và mục ấy áp cho đúng bốn diện thường trú vì công việc: Phái cử D-7, đầu tư doanh nghiệp D-8, Thương mại D-9 và Hoạt động Đặc định E-7.
Nghĩa là tình trạng nộp thuế quốc gia của người giữ D-8 được cơ quan kiểm tra trong thủ tục gia hạn, dù người nộp không phải tự mang giấy tới. Đặt cạnh diện cư trú F-2 đầu tư bất động sản, nơi cùng mục ấy ghi rằng không có giấy tờ nào được đăng ký, thì khác biệt là rõ ràng và đo được chứ không phải suy diễn.
Một giới hạn của ô này phải nói rõ: Quy tắc xác định cư trú thuế của Hàn Quốc chưa đối chiếu được toàn văn tại cổng luật quốc gia law.go.kr, và nghĩa vụ thuế thu nhập doanh nghiệp của chính pháp nhân có vốn nước ngoài nằm ngoài phép đo này.
Chi phí bắt buộc ngoài khoản đầu tư
Điều đáng nói nhất không phải một con số mà là một khoản miễn. Điều 74 khoản 1 điểm 3 Thông tư thi hành Luật Quản lý Xuất nhập cảnh miễn lệ phí cho người mang tư cách lưu trú số 11, đầu tư doanh nghiệp (D-8) — xếp chung một điểm với các tư cách ngoại giao từ số 1 Ngoại giao (A-1) đến số 3 Hiệp định (A-3).
Phải đọc đúng phạm vi: Miễn áp cho người đã mang tư cách ấy, nên nó không chạm tới lệ phí thẩm định hồ sơ xin thị thực nộp tại cơ quan đại diện ở nước ngoài, lúc đương sự chưa có tư cách.
Khoản ấy nằm ở Điều 71 và tính bằng đô la Mỹ:
| Loại thị thực | Phí thẩm định (USD) |
|---|---|
| Thị thực một lần, lưu trú từ 91 ngày trở lên | 60 |
| Thị thực nhiều lần, không giới hạn số lần nhập cảnh | 90 |
| Một lần, lưu trú từ 90 ngày trở xuống | 40 |
| Nhiều lần, tối đa hai lượt | 70 |
Cơ quan đại diện thu bằng bản tệ theo một mức quy đổi tự ấn định có tính tới biến động tỷ giá, và nơi nào có từ hai cơ quan đại diện trở lên thì Đại sứ quyết; muốn thu khác mức này vì thông lệ quốc tế hoặc nguyên tắc có đi có lại thì phải được Bộ trưởng Tư pháp chấp thuận.
Giá trị của khoản miễn đo được bằng chính những gì người khác phải trả theo Điều 72, tính bằng won:
| Thao tác | Lệ phí (won) |
|---|---|
| Thay đổi tư cách lưu trú | 100.000 |
| Thay đổi sang tư cách thường trú F-5 | 200.000 |
| Gia hạn thời gian lưu trú | 60.000 |
| Cấp và cấp lại thẻ đăng ký người nước ngoài | 35.000 |
| Thay đổi hoặc bổ sung nơi làm việc | 120.000 |
| Tái nhập cảnh một lần | 30.000 |
| Tái nhập cảnh nhiều lần | 50.000 |
Lựa chọn đầu tư
| Lựa chọn | Ngưỡng | Loại hình | Trạng thái |
|---|---|---|---|
| Vốn chuyển từ nước ngoài để lập và vận hành pháp nhân, thị thực D-8 | 100.000.000 KRW | Doanh nghiệp | Đang mở |