31/10/2026 · Việt Nam EN

Citizenship · Capital · Global Mobility

The Legation Times

Workation Visa (F-1-D)

Thị thực du mục số Hàn Quốc

Đang mở đối chiếu 16/10/2026 · immigration.go.kr

Hàn Quốc cấp tư cách lưu trú F-1-D cho người làm việc từ xa có thu nhập năm từ một đến hai lần tổng thu nhập quốc dân bình quân đầu người năm trước tuỳ tuổi và vùng lưu trú, tức từ 52,41 triệu đến 104,83 triệu won theo mốc năm 2025. Tư cách có thời hạn một năm, gia hạn mỗi lần một năm, tối đa ba năm, và diện này được vận hành chính thức từ ngày 30/06/2026 sau giai đoạn thí điểm; theo Prosperous Intelligence, hộ chiếu Hàn Quốc, cấp cho công dân chứ không cho người giữ tư cách này, tới được 204 điểm đến không cần xin thị thực lãnh sự trước.

Tổng quan chương trình

  • Tên chính thức chương trình: Workation Visa (F-1-D)
  • Website: immigration.go.kr
  • Cơ quan quản lý: Korea Immigration Service

Ngưỡng vốn tối thiểu

Ngưỡng là một công thức chứ không phải một con số cố định: Thu nhập phải đạt từ một đến hai lần tổng thu nhập quốc dân (GNI) bình quân đầu người của năm trước, theo mức Ngân hàng Trung ương Hàn Quốc công bố tính đến ngày nộp hồ sơ, và hệ số tuỳ thuộc tuổi của người xin cùng vùng lưu trú. Cách tính theo bậc này áp dụng từ ngày 30/06/2026, theo thông cáo báo chí ngày 07/07/2026 của Bộ Tư pháp, thay cho một mức hai lần chung cho mọi người trong giai đoạn thí điểm.

Phụ lục của thông cáo chia bậc trên GNI năm 2025. Người từ 18 đến 34 tuổi cần 1 lần GNI, tức 52,41 triệu KRW một năm, nếu lưu trú ngoài vùng thủ đô hoặc tại khu vực suy giảm dân số hay khu vực cần quan tâm về dân số, và 1,5 lần, tức 78,62 triệu KRW, nếu lưu trú trong vùng thủ đô. Người từ 35 tuổi trở lên cần 1,5 lần ở ngoài vùng thủ đô và 2 lần, tức 104,83 triệu KRW, trong vùng thủ đô. Người đi cùng gia đình, gồm vợ hoặc chồng và con chưa thành niên, cần 2 lần nếu ở vùng thủ đô và 1,5 lần nếu ở ngoài vùng ấy, không phân biệt tuổi.

Vì mốc tính lại hằng năm nên mọi con số ở đây chỉ đọc được khi mang theo năm của nó. Ngân hàng Trung ương Hàn Quốc công bố GNI bình quân đầu người năm 2025 là 52,416 triệu KRW ngày 10/03/2026, rồi điều chỉnh thành 52,57 triệu KRW ngày 09/06/2026; thông cáo của Bộ Tư pháp phát hành sau đó vẫn tính trên mức 52,41 triệu KRW, và văn bản xuất nhập cảnh không nêu cơ quan đại diện áp mức nào cho hồ sơ nộp sau ngày điều chỉnh.

Người xin bậc thấp vì lưu trú ngoài vùng thủ đô phải nộp giấy tờ chứng minh nơi lưu trú dự kiến, như hợp đồng thuê từ một tháng trở lên hoặc xác nhận đặt chỗ tại cơ sở workation hay cơ sở lưu trú.

Thu nhập chứng minh bằng giấy xác nhận việc làm, phiếu lương và xác nhận giao dịch ngân hàng; cơ quan đại diện tại Ottawa đòi các giấy tờ thu nhập ấy phải được cấp trong vòng ba tháng

Kết quả pháp lý

Kết quả là một tư cách lưu trú có mã riêng: F-1-D, mà bản hướng dẫn của cơ quan đại diện gọi là 워케이션; trang tiếng Anh của Đại sứ quán Hàn Quốc tại Singapore ghi "F-1-D Workation Visa (Digital Nomad)".

Tư cách này do cơ quan đại diện cấp dưới dạng thị thực, hoặc do cơ quan xuất nhập cảnh trong nước cấp qua thủ tục chuyển diện.

Thời hạn là một năm tính từ ngày nhập cảnh, ghi nhận vào lúc đăng ký người nước ngoài, và được gia hạn mỗi lần một năm, tối đa ba năm.

Chỗ này hay bị đọc gọn nên phải nói rõ: Ba năm là mức tối đa đạt được qua các lần gia hạn, không phải thời hạn cấp lần đầu. Mức ấy áp dụng từ ngày 30/06/2026, khi Bộ Tư pháp chuyển diện này từ thí điểm sang vận hành chính thức và nâng thời gian lưu trú tối đa từ hai năm lên ba năm.

Một lưu ý về chỗ tra mã, vì nó quyết định người đọc tìm ở đâu. Mã F-1-D có trong văn bản của Bộ Tư pháp: Phụ lục thông cáo báo chí ngày 07/07/2026 mang tiêu đề «디지털 노마드(워케이션, F-1-D) 비자제도 개요», tức tổng quan chế độ thị thực du mục số (workation, F-1-D).

Ngược lại, sổ tay Visa Navigator dài năm mươi chín trang của Cục Xuất nhập cảnh không nhắc mã ấy lần nào, và mục F-1 trong sổ tay ấy nói về thăm thân, đoàn tụ gia đình và phụ dưỡng chứ không nói về làm việc từ xa

Thời gian xử lý công bố

Diện này không còn là chương trình thí điểm, và đó là mốc phải đọc trước khi đọc thời hạn lưu trú: Bộ Tư pháp thí điểm thị thực du mục số từ ngày 01/01/2024 và vận hành chính thức từ ngày 30/06/2026, theo thông cáo báo chí phát hành ngày 07/07/2026.

Thông cáo và phụ lục kèm theo không nêu ngày kết thúc cho chương trình chính thức. Một số trang của cơ quan đại diện ở nước ngoài, như trang của cơ quan đại diện tại Ottawa cập nhật ngày 02/04/2026, vẫn giữ nội dung thí điểm với hạn kết thúc chưa ấn định trong năm 2026; nội dung ấy có trước thông cáo ngày 07/07/2026.

Thời hạn lưu trú đi theo từng năm: Một năm tính từ ngày nhập cảnh, rồi gia hạn mỗi lần một năm, tối đa ba năm, xin tại cơ quan xuất nhập cảnh có thẩm quyền ở nơi lưu trú.

Giấy tờ trong hồ sơ cũng có hạn dùng riêng, và cơ quan đại diện tại Ottawa nêu ba mốc: Hộ chiếu còn hạn từ sáu tháng trở lên, ảnh chụp trong vòng sáu tháng, và giấy tờ thu nhập cấp trong vòng ba tháng

Yêu cầu cư trú thực tế

Hồ sơ nộp được ở hai nơi: Cơ quan đại diện của Hàn Quốc ở nước ngoài, hoặc cơ quan xuất nhập cảnh địa phương nếu người xin đang ở Hàn Quốc.

Và có lối chuyển diện ngay trong nước: Người đang ở Hàn Quốc bằng thị thực du lịch ngắn hạn thuộc các loại B-1, B-2 hoặc C-3 được phép chuyển sang diện này khi đáp ứng đủ điều kiện, tức không phải về nước nộp lại.

Sau khi vào thì có hai nghĩa vụ hành chính kèm mốc ngày, và chính hai nghĩa vụ ấy là chỗ dễ mất tư cách nhất.

Ai định ở từ chín mươi mốt ngày trở lên phải đăng ký người nước ngoài với cơ quan xuất nhập cảnh nơi lưu trú trong vòng chín mươi ngày kể từ ngày nhập cảnh.

Mỗi lần đổi nơi lưu trú phải khai báo trong vòng mười bốn ngày, tại cơ quan xuất nhập cảnh của nơi ở mới hoặc tại chính quyền cấp thành phố, huyện, quận.

Việc đăng ký người nước ngoài còn là mốc để ghi nhận thời hạn một năm, nên nó không phải một thủ tục phụ có thể làm muộn

Người phụ thuộc được kèm

Thân nhân đi cùng nằm trong diện được xét: Phụ lục thông cáo báo chí ngày 07/07/2026 của Bộ Tư pháp, văn bản mô tả diện từ khi vận hành chính thức, xác định đối tượng là người nước ngoài thuộc một doanh nghiệp ở nước ngoài, làm việc từ xa được và đang làm cùng ngành từ một năm trở lên, cùng với gia đình của họ, và giới hạn gia đình ở vợ hoặc chồng và con chưa thành niên. Điều kiện tuổi là từ mười tám tuổi trở lên, và con phụ thuộc đi cùng thì không áp điều kiện ấy.

Khi có người phụ thuộc đi cùng, hồ sơ phải kèm giấy tờ chứng minh quan hệ gia đình.

Ngoài ba điểm ấy và mức thu nhập riêng khi đi cùng gia đình, ghi ở ô ngưỡng vốn, thì cả phụ lục của Bộ Tư pháp lẫn bản hướng dẫn của cơ quan đại diện đều không nói thân nhân được cấp tư cách lưu trú nào, không nói họ có được làm việc hay theo học không, và không nói thời hạn của họ có gắn với thời hạn của người chính hay không.

Đây là khoảng trống của nguồn chứ không phải một câu trả lời: Không có cơ sở để nói thân nhân được cấp cùng mã với người chính, cũng không có cơ sở để nói họ phải xin một diện khác

Số nước miễn thị thực

Tư cách mà chương trình này cấp, dù là thị thực hay thẻ cư trú, không thay hộ chiếu của người giữ. Người giữ vẫn đi lại bằng hộ chiếu của nước mình, nên con số dưới đây là của hộ chiếu Hàn Quốc và chỉ trở thành của người giữ khi họ được cấp hộ chiếu Hàn Quốc.

Theo Passport Index của Prosperous Intelligence, dữ liệu ngày 30/09/2026, hộ chiếu Hàn Quốc tới được 204 điểm đến mà không cần xin thị thực lãnh sự trước. Con số ấy gộp ba hình thức nhập cảnh và không tính thị thực điện tử phải xin trước:

Hình thức nhập cảnhSố điểm đến
Miễn thị thực167
Thị thực cấp tại cửa khẩu27
Giấy phép du lịch điện tử (eTA)10
Cộng, là con số của Passport Index204
Thị thực điện tử phải xin trước, không cộng30

Vì vậy đây là thước đo mức đi lại thuận tiện, không phải số nước miễn thị thực theo nghĩa hẹp.

Để đối chiếu, cùng nguồn và cùng cách đếm, hộ chiếu Việt Nam tới được 44 điểm đến. Hai danh sách điểm đến không lồng vào nhau, nên hiệu số chỉ là chỉ dấu chứ không phải danh sách những nơi được mở thêm.

Prosperous Intelligence ghi ngày cho dữ liệu và khuyến nghị xác minh với cơ quan chính thức của nước đến trước khi đi.

Nghĩa vụ thuế phát sinh

Phụ lục thông cáo báo chí ngày 07/07/2026 của Bộ Tư pháp, văn bản mô tả diện từ khi vận hành chính thức, không đề cập tới thuế — không nói người giữ thị thực là cư dân thuế hay không, không nói thu nhập từ nước ngoài được xử lý ra sao, và không dẫn sang cơ quan thuế.

Đây là im lặng chứ không phải một tuyên bố miễn thuế, và hai thứ đó không thay thế được cho nhau. Phép đo ấy nay đứng trên hai tài liệu của hai cơ quan chứ không phải một: Bản hướng dẫn của cơ quan đại diện, cập nhật ngày 02/04/2026, cũng không có chữ thuế ở bất kỳ dạng nào, đã thử cả dạng chữ Hàn lẫn dạng chữ Anh.

Hai tài liệu cùng im lặng ở cùng một chỗ thì đó là im lặng có hệ thống, và vẫn không phải một điều khoản miễn thuế.

Điều cả hai tài liệu có nói, và hay bị đọc nhầm thành điều khoản thuế, là một hạn chế về hoạt động: Hoạt động làm công và hoạt động sinh lợi tại Hàn Quốc bị hạn chế trong suốt thời gian lưu trú, và bản của cơ quan đại diện nói thêm rằng vi phạm thì bị xử lý theo pháp luật quản lý xuất nhập cảnh.

Hạn chế ấy là hạn chế về nhập cảnh và lưu trú, không phải một quy tắc phân định nguồn thu nhập để đánh thuế

Chi phí bắt buộc ngoài khoản đầu tư

Bắt buộc mua bảo hiểm y tế cá nhân với mức bảo hiểm tối thiểu 100 triệu KRW, bao gồm cả chi phí điều trị tại bệnh viện lẫn chi phí đưa về nước, có hiệu lực suốt thời gian lưu trú; và giấy chứng nhận bảo hiểm y tế ấy là một mục bắt buộc trong bộ hồ sơ, không phải thứ xuất trình sau.

Lệ phí là chỗ phải đọc kỹ, vì thông báo của Bộ Tư pháp nêu mục lệ phí mà không nêu số tiền: Hồ sơ gồm đơn xin cấp thị thực theo Mẫu số 17, hộ chiếu, một ảnh cỡ chuẩn và lệ phí, hết.

Số tiền do từng cơ quan đại diện ấn định và công bố riêng, nên nó đổi theo nơi nộp chứ không có một mức chung: Cơ quan đại diện tại Ottawa, bản cập nhật ngày 02/04/2026, ghi lệ phí 121,5 đô la Canada và đòi trả bằng tiền mặt.

Còn một khoản nữa nằm ngoài lệ phí và hay bị bỏ sót khi tính tiền: Giấy chứng nhận lý lịch tư pháp bắt buộc phải dán tem apostille hoặc được hợp pháp hoá lãnh sự, và đó là một thủ tục có phí riêng ở nước sở tại

Lựa chọn đầu tư

Lựa chọn Ngưỡng Loại hình Trạng thái
Thu nhập tối thiểu từ một đến hai lần GNI bình quân đầu người năm 2025 tuỳ tuổi và vùng lưu trú; bậc thấp nhất 52,41 triệu KRW cho người 18–34 tuổi ở ngoài vùng thủ đô 52.410.000 KRW/năm Khác Đang mở

Bản tin hàng tuần

Bản tin về đầu tư quốc tịch, dòng vốn và dịch chuyển toàn cầu sẽ được gửi hàng tuần. Quý độc giả vui lòng để lại địa chỉ thư điện tử để nhận bản tin mới nhất.