Hàn Quốc cấp thị thực khởi nghiệp công nghệ D-8-4 cho người sáng lập đạt thang điểm dựa trên bằng cấp, sở hữu trí tuệ và việc đã lập pháp nhân, không đặt ngưỡng vốn. Mỗi lần cấp, tư cách D-8-4 có thời hạn tối đa hai năm và gia hạn được, và người giữ có thể lên thường trú F-5 sau ba năm ở Hàn Quốc liên tục với tư cách D-8-4 nếu huy động được từ 300 triệu won vốn đầu tư, hoặc có vốn tương đương, và tuyển từ hai người Hàn Quốc trở lên; theo Prosperous Intelligence, hộ chiếu Hàn Quốc, cấp cho công dân chứ không cho người giữ thị thực này, tới được 204 điểm đến không cần xin thị thực lãnh sự trước.
Tổng quan chương trình
- Tên chính thức chương trình: Startup Visa D-8-4 (OASIS)
- Website: immigration.go.kr
- Cơ quan quản lý: Korea Immigration Service
Ngưỡng vốn tối thiểu
Không đặt ngưỡng vốn tối thiểu; diện D-8-4 chấm theo thang điểm khởi nghiệp dựa trên bằng cấp, quyền sở hữu trí tuệ và việc đã lập pháp nhân, khác với D-8-1 vốn đòi 100 triệu KRW. Quyền sở hữu trí tuệ chỉ được tính khi được công nhận theo luật Hàn Quốc hoặc đã đăng ký tại một nước OECD, và pháp nhân phải là pháp nhân mới lập chứ không phải pháp nhân mua lại. Ngoài thang điểm còn lối thị thực đặc biệt Startup Korea (D-8-4S), dành cho người đã qua hội đồng thẩm định tư nhân và được Bộ trưởng Bộ Doanh nghiệp vừa và nhỏ và Khởi nghiệp tiến cử.
Tiền vẫn xuất hiện trước chặng thường trú, ở hai chỗ. Ở bước chuẩn bị khởi nghiệp D-10-2, sổ tay cấp thị thực đòi giấy xác nhận số dư ngân hàng không thấp hơn mức chuẩn trợ cấp nhà ở của hộ một người trong năm nhân với số tháng lưu trú, và sổ tay không ghi con số bằng won. Ở thang điểm D-8-4, khoản đầu tư từ 100 triệu won trở lên do tổ chức tăng tốc khởi nghiệp hoặc quỹ đầu tư mạo hiểm rót vào, được Trung tâm Di trú Khởi nghiệp Toàn cầu xác nhận, được 60 điểm, tức đủ mức đạt chỉ với mục này.
Khoản lớn hơn nằm ở chặng thường trú. Theo sổ tay lưu trú tháng 9/2026 của Bộ Tư pháp, người giữ D-8-4 lên được thường trú F-5 nếu tính tới ngày nộp đơn đã ở Hàn Quốc liên tục từ ba năm trở lên với tư cách D-8-4, không tính các lần lưu trú trước; đã huy động từ 300 triệu won trở lên từ nhà đầu tư trong hoặc ngoài nước, hoặc có vốn tương đương, với vốn huy động được cộng cùng vốn điều lệ của pháp nhân để tính; và đang tuyển toàn thời gian từ hai người Hàn Quốc trở lên liên tục từ sáu tháng.
Với nhóm này, yêu cầu về kiến thức cơ bản, như chương trình hội nhập xã hội KIIP, được miễn. Người học xong chương trình KIIP từ cấp 3 trở lên được cộng điểm khi xin D-8.
Kết quả pháp lý
Tư cách D-8 Nhà đầu tư Doanh nghiệp được cấp cho chuyên gia thiết yếu của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài theo Luật Xúc tiến Đầu tư Nước ngoài, và cho người sáng lập doanh nghiệp mạo hiểm; thời hạn tối đa mỗi lần cấp là 5 năm với nhánh đầu tư vào pháp nhân (D-8-1) và nhánh đầu tư vào doanh nghiệp cá nhân (D-8-3), nhưng chỉ 2 năm với nhánh khởi nghiệp công nghệ D-8-4 của bản ghi này; gia hạn được.
Người khởi nghiệp công nghệ có đường lên thường trú F-5 riêng và ngắn hơn đường chung: Tính tới ngày nộp đơn, đã ở Hàn Quốc liên tục từ ba năm trở lên với tư cách khởi nghiệp công nghệ D-8-4, không tính các lần lưu trú trước; đã huy động từ 300 triệu won trở lên từ nhà đầu tư trong hoặc ngoài nước, hoặc có vốn tương đương, và trường hợp tổng của vốn huy động với vốn điều lệ của pháp nhân đạt mức ấy cũng được chấp nhận; và đang tuyển dụng toàn thời gian từ hai công dân Hàn Quốc trở lên liên tục từ sáu tháng.
Để so sánh, đường thường trú chung đòi ở trên năm năm với các tư cách D-7 đến D-10, E-1 đến E-7 hoặc F-2
Thời gian xử lý công bố
Hai sổ tay tháng 9/2026 của Bộ Tư pháp không nêu thời gian xét hồ sơ cho diện này. Mốc duy nhất tìm được là của Đại sứ quán Hàn Quốc tại Hà Nội: Thị thực cấp theo giấy xác nhận cấp thị thực được xét trong 7 ngày làm việc kể từ ngày tiếp nhận, không tính cuối tuần và ngày lễ.
Lộ trình vào diện khởi nghiệp công nghệ D-8 có ba lối thay thế nhau: Có bằng cao đẳng trở lên do một cơ sở tại Hàn Quốc cấp; có bằng cử nhân trở lên do một cơ sở nước ngoài cấp; hoặc được người đứng đầu một cơ quan hành chính trung ương tiến cử.
Ngoài ra còn phải đáp ứng điều kiện của hệ thống tính điểm, hoặc điều kiện để tham gia chương trình K-startup Grand Challenge.
Thời hạn lưu trú tối đa mỗi lần cấp của nhánh D-8-4 là hai năm và gia hạn được; mức năm năm chỉ áp cho nhánh D-8-1 và D-8-3. Hồ sơ gia hạn nộp sớm nhất bốn tháng trước khi hết hạn và chậm nhất vào ngày hết hạn.
Người giữ D-8 không được gia hạn trực tuyến qua HiKorea; đây là một trong các tư cách lưu trú bị loại khỏi dịch vụ gia hạn điện tử. Việc đổi nơi ở phải khai báo trong vòng 15 ngày kể từ ngày chuyển tới.
Lộ trình được công bố đi từ D-10 chuẩn bị khởi nghiệp công nghệ, sang D-8, rồi lên F-5 sau ba năm liên tục ở D-8-4 nếu đạt điều kiện đầu tư và tuyển dụng ghi ở ô ngưỡng vốn.
Yêu cầu cư trú thực tế
Ba điều kiện chung để xin thường trú là nhân thân tốt, khả năng tự nuôi sống và kiến thức cơ bản — nhưng phải nói ngay điều mà bảng này trước đây ghi thiếu: Với đúng lối đi của bản ghi này, điều kiện thứ ba được miễn.
Sổ tay của Bộ Tư pháp, ở bậc từ khởi nghiệp công nghệ lên thường trú, ghi thẳng rằng yêu cầu về kiến thức cơ bản, tức Chương trình Hội nhập Di trú, được miễn cho nhà đầu tư khởi nghiệp công nghệ.
Cấp độ 5 trở lên của chương trình ấy là cách đạt điều kiện của diện thường trú chung và diện thường trú theo điểm, không phải của diện này — và danh sách miễn của sổ tay không chỉ có diện này: Nó còn gồm nhiều diện thường trú khác, trong đó có người có bằng tiến sĩ ở lĩnh vực công nghệ cao hoặc lĩnh vực chung, nhà đầu tư lớn, nhà đầu tư vào cơ sở du lịch nghỉ dưỡng hoặc dự án công ích, và nhân lực nghiên cứu phát triển của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
Chương trình Hội nhập vẫn có vai ở diện này nhưng ở một bậc khác và theo chiều có lợi: Tại bậc xin tư cách khởi nghiệp công nghệ, hoàn thành cấp độ 3 trở lên được cộng điểm thang chấm.
Tức cùng một chương trình học, ở bậc dưới thì cộng điểm, ở bậc trên thì không cần. Về tư cách đã đạt, sổ tay nêu ba điều đáng biết: Với người mang thường trú F-5 thì không có hạn chế nào về hoạt động làm việc hay hoạt động sinh lợi.
Từ ngày 21/09/2018, việc cấp thẻ thường trú có thời hạn mười năm và việc cấp lại thẻ đã trở thành bắt buộc theo Điều 33 Luật Quản lý Xuất nhập cảnh, và không xin cấp lại đúng kỳ hạn thì có thể bị xử phạt; và giấy phép tái nhập cảnh được miễn cho người trở lại trong vòng hai năm kể từ ngày xuất cảnh.
Người phụ thuộc được kèm
Người giữ tư cách D-7 đến D-9 mời được vợ hoặc chồng và con chưa thành niên sang theo diện F-3 Thân nhân Phụ thuộc, và diện ấy không được phép làm việc. Với cha mẹ, gồm cả cha mẹ vợ hoặc chồng, thì mời được theo diện F-1 nhưng phải có thu nhập năm trên hai lần GNI bình quân đầu người của năm trước.
Riêng người đã lấy bằng cử nhân trở lên tại một trường đại học trong nước rồi mới chuyển sang tư cách ấy thì điều kiện được nới xuống chỉ cần thu nhập năm bằng mức GNI trở lên. Về nguyên tắc, người giữ tư cách F-1 không được chuyển đổi tư cách ngay tại Hàn Quốc
Số nước miễn thị thực
Tư cách mà chương trình này cấp, dù là thị thực hay thẻ cư trú, không thay hộ chiếu của người giữ. Người giữ vẫn đi lại bằng hộ chiếu của nước mình, nên con số dưới đây là của hộ chiếu Hàn Quốc và chỉ trở thành của người giữ khi họ được cấp hộ chiếu Hàn Quốc.
Theo Passport Index của Prosperous Intelligence, dữ liệu ngày 30/09/2026, hộ chiếu Hàn Quốc tới được 204 điểm đến mà không cần xin thị thực lãnh sự trước. Con số ấy gộp ba hình thức nhập cảnh và không tính thị thực điện tử phải xin trước:
| Hình thức nhập cảnh | Số điểm đến |
|---|---|
| Miễn thị thực | 167 |
| Thị thực cấp tại cửa khẩu | 27 |
| Giấy phép du lịch điện tử (eTA) | 10 |
| Cộng, là con số của Passport Index | 204 |
| Thị thực điện tử phải xin trước, không cộng | 30 |
Vì vậy đây là thước đo mức đi lại thuận tiện, không phải số nước miễn thị thực theo nghĩa hẹp.
Để đối chiếu, cùng nguồn và cùng cách đếm, hộ chiếu Việt Nam tới được 44 điểm đến. Hai danh sách điểm đến không lồng vào nhau, nên hiệu số chỉ là chỉ dấu chứ không phải danh sách những nơi được mở thêm.
Prosperous Intelligence ghi ngày cho dữ liệu và khuyến nghị xác minh với cơ quan chính thức của nước đến trước khi đi.
Nghĩa vụ thuế phát sinh
Hai nguồn của cơ quan cấp — trang hướng dẫn chế độ và sổ tay thị thực của Bộ Tư pháp — không nhắc tới thuế hay thuế thu nhập; trang hướng dẫn chỉ nhắc đăng ký kinh doanh như một thủ tục phải hoàn tất, không phải một nghĩa vụ thuế.
Chương trình không có chế độ thuế riêng. Hàn Quốc có một chế độ ưu đãi cho người lao động nước ngoài, và nó vừa hào phóng vừa mang sẵn một điều kiện loại trừ chạm thẳng vào diện này.
Điều 18 mục 2 khoản 2 Luật Hạn chế Ưu đãi Thuế cho người nước ngoài là viên chức hoặc người làm công, trừ lao động thời vụ, lần đầu cung ứng lao động trong nước trước ngày 31/12/2026, được tính thuế thu nhập trên thu nhập từ lao động ở mức 100 phần 19.
Tức 19%, cho tới kỳ tính thuế kết thúc trong hai mươi năm kể từ ngày đầu cung ứng lao động, bất kể quy định tại khoản 1 Điều 55 Luật Thuế Thu nhập.
Và điều kiện loại trừ nằm ngay trong ngoặc vuông của chính điều luật ấy:
Thu nhập từ lao động được hưởng mức 19% là thu nhập nhận được do làm việc trong nước, nhưng loại trừ trường hợp cung ứng lao động cho người có quan hệ đặc biệt theo quy định của nghị định hướng dẫn, gọi là doanh nghiệp có quan hệ đặc biệt, trừ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài do nghị định quy định.
Cái giá của mức 19%, ở khoản 3: Chọn nó thì mất toàn bộ các khoản không chịu thuế, khấu trừ, giảm thuế và khấu trừ thuế liên quan tới thuế thu nhập, và khoản thu nhập ấy không gộp vào cơ sở tính thuế thu nhập tổng hợp.
Thủ tục ở khoản 4 và 5: Người có nghĩa vụ khấu trừ tại nguồn có thể khấu trừ 19% hằng tháng, và người muốn áp dụng phải nộp đơn theo nghị định hướng dẫn.
Điều kiện loại trừ ấy cần đọc cùng một điều kiện của chính thị thực: Người giữ diện này phải tự mình là người sáng lập pháp nhân Hàn Quốc và phải hoàn tất đăng ký pháp nhân cùng đăng ký kinh doanh — điều kiện cấp phép ghi rõ đương đơn phải chính là người sáng lập.
Nghị định thi hành Luật Hạn chế Ưu đãi Thuế, tại Điều 16-2 khoản 2, định nghĩa doanh nghiệp có quan hệ đặc biệt là doanh nghiệp mà người lao động nước ngoài có quan hệ thân tộc hoặc quan hệ chi phối quản lý theo Điều 1-2 khoản 1 và khoản 3 Nghị định thi hành Luật Cơ bản về Thuế Quốc gia, và khi xét quan hệ chi phối quản lý thì không áp tiêu chí ảnh hưởng thực tế.
Theo Điều 1-2 khoản 4 của nghị định ấy, quan hệ chi phối với một pháp nhân vì lợi nhuận được coi là có khi một người, trực tiếp hoặc qua người thân, góp từ 30% tổng số cổ phần phát hành hoặc tổng vốn góp trở lên. Theo câu chữ ấy, người sáng lập cùng người thân nắm từ 30% vốn của pháp nhân mà mình làm việc thì không được hưởng mức 19%, trừ khi pháp nhân là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được giảm thuế theo nghị định; với từng trường hợp cụ thể, cơ quan thuế mới là nơi kết luận. Một cảnh báo về nguồn lỗi thời: Sổ tay tiếng Anh của Cục Thuế Quốc gia diễn đạt cùng điều khoản ấy nhưng ghi mốc năm năm kể từ ngày đầu cung ứng lao động — đó là bản năm 2020, và con số ấy đã lỗi thời so với bản luật đang hiệu tức hai mươi năm.
Dùng sổ tay để lấy cách diễn đạt tiếng Anh thì được, lấy con số thì phải theo luật.
Các thông số của chính diện thị thực: Đối tượng là người có bằng cử nhân trở lên, đã lập pháp nhân kể cả khi thủ tục đang tiến hành, và đạt từ 60 trên 300 điểm của thang chấm.
Bằng cấp chỉ công nhận bằng đã lấy, người sắp tốt nghiệp bị loại; pháp nhân phải là mới lập, không phải mua lại pháp nhân có sẵn, và nếu chỉ thiếu khâu lập pháp nhân thì được cho nợ sáu tháng.
Thang điểm gồm mục bắt buộc tối đa 180 điểm — trong đó quyền sở hữu trí tuệ tối đa 60 điểm, người thụ hưởng chương trình hỗ trợ khởi nghiệp của nhà nước hoặc người hoàn thành học phần OASIS-6 hoặc OASIS-9 30 điểm, giáo sư hoặc nghiên cứu viên từ ba năm trở lên 30 điểm, và hút được từ 100 triệu won đầu tư là 60 điểm — cộng mục tự chọn tối đa 120 điểm.
Đường lên thường trú: Tính tới ngày nộp đơn, cư trú liên tục bằng tư cách D-8-4 từ ba năm trở lên, không tính các lần lưu trú trước, hút được từ 300 triệu won đầu tư hoặc vốn tương đương, và tuyển từ hai công dân Hàn Quốc trở lên liên tục từ sáu tháng.
Đọc ô này đúng phạm vi: Nguồn của cơ quan cấp nói về điều kiện cấp và gia hạn tư cách lưu trú, thang điểm và đường lên thường trú, và im lặng về thuế; luật thuế nói về mức khoán cho người lao động nước ngoài và không nhắc diện này hay bất kỳ tư cách lưu trú nào
Chi phí bắt buộc ngoài khoản đầu tư
Diện khởi nghiệp công nghệ là một nhánh của tư cách đầu tư doanh nghiệp (D-8), nên nó thừa hưởng khoản miễn lệ phí của cả nhóm. Điều 74 khoản 1 điểm 3 Thông tư thi hành Luật Quản lý Xuất nhập cảnh miễn lệ phí cho người mang tư cách lưu trú số 11 Đầu tư Doanh nghiệp (D-8).
Điều khoản ấy gọi tên tư cách gốc mà không chia nhỏ theo nhánh. Đây là phép suy, và ô này ghi rõ nó là phép suy chứ không phải chữ của luật.
Bản thân Thông tư không nhắc tới nhánh khởi nghiệp công nghệ, vì việc phân nhánh nằm ở bảng phụ lục của Nghị định chứ không nằm ở đây.
Điều 74 gọi tên người thuộc tư cách D-8 mà không tách lệ phí thị thực khỏi lệ phí lưu trú, nên câu chữ không tự loại lệ phí thẩm định hồ sơ xin thị thực nộp ở nước ngoài ra khỏi khoản miễn; cơ quan đại diện tại Việt Nam có miễn khoản ấy cho diện D-8-4 hay không thì chưa nguồn nào xác nhận.
Mức gốc theo Điều 71 là 60 đô la Mỹ cho thị thực một lần lưu trú từ 91 ngày và 90 đô la cho thị thực nhiều lần không giới hạn. Người đứng đầu cơ quan đại diện được đặt mức khác khi Bộ trưởng Tư pháp chấp thuận, và Đại sứ quán Hàn Quốc tại Hà Nội công bố 50 đô la cho thị thực dài hạn một lần và 80 đô la cho thị thực dài hạn nhiều lần.
Những khoản mà người không được miễn phải trả theo Điều 72, tức đúng phần mà diện này tiết kiệm được, tính bằng won:
| Thủ tục | Lệ phí theo Điều 72 (won) |
|---|---|
| Thay đổi tư cách lưu trú | 100.000 |
| Gia hạn lưu trú | 60.000 |
| Cấp thẻ đăng ký người nước ngoài | 35.000 |
| Thay đổi hoặc bổ sung nơi làm việc | 120.000 |