28/09/2026 · Việt Nam EN

Citizenship · Capital · Global Mobility

The Legation Times

Thị thực cư trú Nepal: Cục Công nghiệp công bố 2 ngưỡng vốn chênh nhau 10 lần

Edward Nguyen Edward Nguyen
Bảo tháp Swayambhunath ở Kathmandu với đỉnh tháp mạ vàng, đôi mắt Phật và những dây cờ cầu nguyện nhiều màu trên nền trời xanh

Cơ quan cấp thị thực niêm yết phí nhà đầu tư 200 USD năm đầu; cơ quan đề xuất cấp thị thực ghi 700 USD năm đầu và 1.200 USD mỗi lần gia hạn, không phân loại đối tượng.

Bản Luật Đầu tư nước ngoài và Chuyển giao công nghệ 2075 (2019) do Cục Công nghiệp Nepal (Department of Industry) công bố quy định nhà đầu tư nước ngoài được cấp thị thực cư trú khi đầu tư một lần trên 1 triệu USD. Tuy nhiên, trang hướng dẫn thị thực bằng tiếng Anh của chính cơ quan này ghi ngưỡng trên 100.000 USD. Cơ quan Xuất nhập cảnh Nepal (Department of Immigration), đơn vị cấp thị thực, lại công bố mức tối thiểu 100.000 USD.

Chênh lệch giữa các tài liệu không chỉ nằm ở số vốn. Hai cơ quan còn niêm yết phí khác nhau, trong khi hồ sơ xin thị thực cư trú theo diện đầu tư phải có thư đề xuất của Cục Công nghiệp để trình Cơ quan Xuất nhập cảnh. Các tài liệu đã kiểm tra chưa giải thích được ngưỡng vốn và biểu phí nào được áp dụng.

Bản luật công bố quy định mức trên 1 triệu USD

Điều 30 trong bản luật do Cục Công nghiệp công bố gồm 7 khoản về thị thực; điều tiếp theo quy định về đất đai.

Khoản 2 quy định cấp thị thực kinh doanh cho nhà đầu tư nước ngoài, 1 người đại diện được ủy quyền và thành viên gia đình của nhà đầu tư hoặc người đại diện, trong thời gian khoản đầu tư nước ngoài được duy trì ở mức tối thiểu theo quy định. Phần giải thích xác định thành viên gia đình gồm vợ hoặc chồng, cha mẹ và con chưa thành niên.

Ngưỡng vốn để được cấp thị thực cư trú nằm tại khoản 4. Khoản đầu tư phải trên 1 triệu USD, được văn bản ghi là trên 10 lakh USD theo cách đếm Nam Á. Theo khoản này, nhà đầu tư nước ngoài được cấp thị thực cư trú khi thực hiện khoản đầu tư một lần trên mức đó, hoặc số tiền tương đương bằng ngoại tệ chuyển đổi được.

Quy định cũng mở rộng việc cấp thị thực cho người đại diện được ủy quyền và gia đình, với điều kiện duy trì khoản đầu tư ở mức tối thiểu theo quy định. Tuy nhiên, khoản 4 không xác định mức tối thiểu phải duy trì là bao nhiêu. Những tài liệu đã kiểm tra cũng chưa cho thấy mức vốn duy trì có bằng ngưỡng vốn ban đầu để được cấp thị thực hay không.

Việc đọc bản luật này có một giới hạn kỹ thuật cần nêu rõ. Tệp PDF bằng tiếng Nepal sử dụng phông chữ cũ cho hệ chữ Devanagari. Phông chữ ánh xạ sai phụ âm này thành phụ âm khác, khiến chuỗi chữ trích xuất chứa các phụ âm khác với văn bản gốc. Khi tìm kiếm từ “đầu tư” theo đúng chính tả tiếng Nepal, tệp luật đầu tư dài 30 trang không trả về kết quả nào. Nội dung quy định nêu trên được đọc và giải mã từ dạng chữ bị thay sai phụ âm này.

Hai trang hướng dẫn khác nhau ngay tại mốc 100.000 USD

Trang hướng dẫn đề xuất cấp thị thực của Cục Công nghiệp ghi ngày cập nhật thuộc tháng 4/2021. Theo phần tiếng Anh trên trang này, nhà đầu tư nước ngoài đầu tư một lần bằng ngoại tệ chuyển đổi được, với giá trị tương đương trên 100.000 USD, sẽ được cấp thị thực cư trú theo đề xuất của Cục Công nghiệp. Trang này đồng thời nêu thị thực có thể được cấp từng lần với thời hạn 1 năm.

Trang thông tin thị thực của Cơ quan Xuất nhập cảnh không ghi ngày cập nhật. Trong danh sách người có thể nộp hồ sơ, cơ quan này nêu người đã đầu tư tối thiểu 100.000 USD, hoặc số tiền tương đương, vào một doanh nghiệp công nghiệp tại Nepal.

“Trên 100.000 USD” và “tối thiểu 100.000 USD” đặt ranh giới khác nhau. Nếu đầu tư đúng 100.000 USD, nhà đầu tư đáp ứng con số mà Cơ quan Xuất nhập cảnh công bố, nhưng chưa đáp ứng con số trên trang của Cục Công nghiệp.

Đây mới chỉ là đối chiếu về số tiền. Mỗi trang còn nêu điều kiện riêng cần phân biệt: Cục Công nghiệp yêu cầu khoản đầu tư bằng ngoại tệ chuyển đổi được, còn Cơ quan Xuất nhập cảnh xác định nơi nhận đầu tư là doanh nghiệp công nghiệp tại Nepal.

Câu tiếng Anh có dấu hiệu diễn giải khoản 4

Có cơ sở để xem câu hướng dẫn bằng tiếng Anh của Cục Công nghiệp là phần diễn giải khoản 4 Điều 30. Cả hai cùng trình bày 3 yếu tố theo một thứ tự: Khoản đầu tư được thực hiện một lần, bằng ngoại tệ chuyển đổi được, sau đó là việc cấp thị thực cư trú. Cơ sở đối chiếu nằm ở cả chuỗi nội dung này, thay vì chỉ ở một từ ngữ trùng nhau.

Tuy nhiên, sự tương ứng về trình tự không đủ để kết luận hai nội dung chỉ khác nhau ở số tiền. Khoản 4 trong bản luật công bố còn xác định những người khác thuộc phạm vi được cấp thị thực và gắn việc cấp thị thực với điều kiện duy trì khoản đầu tư. Câu hướng dẫn bằng tiếng Anh không nêu hai nội dung đó, nhưng lại ghi thời hạn cấp từng lần là 1 năm.

Chưa tìm thấy tài liệu nào giải thích quan hệ giữa hai cách quy định này. Vì vậy, chưa thể xác định thời hạn cấp hằng năm và điều kiện duy trì vốn có được áp dụng đồng thời thông qua thủ tục gia hạn, hay phản ánh những quy định khác nhau.

Biểu phí cư trú chênh nhau theo từng cơ quan

Cục Công nghiệp niêm yết một dòng phí thị thực cư trú, không gắn với nhóm đối tượng cụ thể: 700 USD cho năm đầu và 1.200 USD cho mỗi lần gia hạn.

Cơ quan Xuất nhập cảnh lại niêm yết riêng 2 nhóm. Với người nước ngoài có ý định sinh sống tại Nepal mà không tiến hành hoạt động kinh doanh, mức phí là 700 USD cho năm đầu và 1.200 USD khi gia hạn. Biểu phí còn có dòng “Trước năm 1998: 100 USD”.

Nhóm không kinh doanh này có các điều kiện riêng:

  • Sao kê ngân hàng thể hiện số tiền 20.000 USD.
  • Thu nhập thường xuyên ít nhất 20.000 USD mỗi năm.
  • Giấy chứng nhận sức khỏe.
  • Giấy tờ chứng minh 60 tuổi hoặc đã nghỉ hưu.

Trong khi đó, với nhà đầu tư từ 100.000 USD trở lên, Cơ quan Xuất nhập cảnh niêm yết mức phí 200 USD mỗi năm và phí gia hạn 100 USD.

Như vậy, cặp mức phí 700 USD và 1.200 USD trên trang của Cục Công nghiệp trùng khớp hoàn toàn với mức phí mà cơ quan cấp thị thực dành cho nhóm không kinh doanh. Trang của Cục Công nghiệp không có mục phí riêng cho nhà đầu tư.

Nếu chỉ đọc trang này, nhà đầu tư sẽ thấy mức phí năm đầu bằng 3,5 lần và phí gia hạn bằng 12 lần mức mà Cơ quan Xuất nhập cảnh niêm yết cho diện đầu tư. Những tài liệu đã kiểm tra chưa xác định được biểu phí nào được thu trên thực tế.

Sự khác biệt còn xuất hiện ở thị thực kinh doanh. Cục Công nghiệp chia biểu phí thành 2 nhóm theo vốn đầu tư, trong khi Cơ quan Xuất nhập cảnh chia thành 3 nhóm. Nhóm thứ ba, có vốn trên 100 triệu rupee, được ghi là “No Charge”, nghĩa là miễn phí. Nhóm nhà đầu tư có mức vốn cao nhất này không xuất hiện trong biểu phí của Cục Công nghiệp.

Một hồ sơ đầu tư phải qua cả hai cơ quan

Cơ quan Xuất nhập cảnh công bố 4 căn cứ để xin thị thực cư trú:

  • Có danh tiếng quốc tế.
  • Có khả năng đóng góp xuất sắc cho sự phát triển kinh tế, xã hội hoặc văn hóa của Nepal.
  • Đầu tư ít nhất 100.000 USD vào một doanh nghiệp công nghiệp.
  • Có ý định sinh sống suốt đời tại Nepal mà không tiến hành hoạt động kinh doanh.

Trang của Cục Công nghiệp chỉ nêu căn cứ đầu tư.

Đối với diện này, người nộp hồ sơ không thể lựa chọn một trong hai cơ quan như hai đầu mối thay thế nhau. Danh mục giấy tờ của Cơ quan Xuất nhập cảnh yêu cầu thư đề xuất của Cục Công nghiệp. Vì vậy, cùng một hồ sơ phải đi qua cả cơ quan đề xuất lẫn cơ quan cấp thị thực, dù thông tin công khai của họ chưa thống nhất.

Chưa đủ căn cứ xác định ngưỡng vốn đang áp dụng

Các tài liệu đã kiểm tra chưa cho phép kết luận con số nào có giá trị áp dụng. Trên cả hai trang, chưa tìm thấy nội dung giải thích sự khác biệt giữa bản luật và hướng dẫn thị thực, cũng chưa tìm thấy xác nhận rằng một ngưỡng đã thay thế ngưỡng còn lại.

Nội dung hiện tại của Điều 30 cũng chưa được xác minh đầy đủ. Cục Công nghiệp có công bố luật sửa đổi một số luật của Nepal liên quan đến tạo thuận lợi cho đầu tư, mang niên hiệu 2081. Tuy nhiên, tài liệu là bản quét dài 18 trang, dung lượng 13,4 MB, không trích xuất được văn bản và chưa được đọc. Vì vậy, chưa rõ luật sửa đổi này có tác động đến Điều 30 hay không.

Hai văn bản khác cũng chưa được xem xét là Luật Xuất nhập cảnh 2049 (Immigration Act 2049) và Quy định về xuất nhập cảnh 2051 (Immigration Regulation 2051). Cục Công nghiệp dẫn hai văn bản này làm cơ sở cho các loại thị thực của Nepal, nhưng nội dung của chúng chưa nằm trong phạm vi đối chiếu đã thực hiện.

Bản dịch tiếng Anh chính thức do Ủy ban Pháp luật Nepal lưu giữ cũng chưa tiếp cận được. Danh mục luật trên trang của ủy ban được tạo bằng mã lệnh và không trả về mục tương ứng với luật đang xem xét. Những nội dung dẫn từ Điều 30 trong bài được chuyển ngữ từ bản tiếng Nepal do Cục Công nghiệp công bố, sau bước giải mã dạng chữ đã trình bày ở trên.

The Legation Times biên soạn nội dung từ tài liệu đã công bố; nội dung tại đây không phải tư vấn pháp lý, tư vấn thuế hay khuyến nghị đầu tư. Trường hợp quý độc giả phát hiện ra sai sót, kính mời quý độc giả gửi yêu cầu đính chính. Với trường hợp liên quan đến quyền sử dụng nội dung, hãy thực hiện gửi yêu cầu gỡ bỏ.

Đọc thêm

Bản tin hàng tuần

Bản tin về đầu tư quốc tịch, dòng vốn và dịch chuyển toàn cầu sẽ được gửi hàng tuần. Quý độc giả vui lòng để lại địa chỉ thư điện tử để nhận bản tin mới nhất.