Chương trình đầu tư đặc biệt của Montenegro đã đóng và không nhận hồ sơ mới sau năm 2022; khi còn vận hành, chương trình trao quốc tịch cho nhà đầu tư ký gửi vào tài khoản escrow tối thiểu 250.000 EUR để đầu tư vào dự án phát triển tại vùng Bắc hoặc vùng Trung tâm, hoặc 450.000 EUR tại thủ đô Podgorica hay vùng ven biển. Quyết định của Chính phủ làm căn cứ cho chương trình không đặt nghĩa vụ cư trú, và theo Prosperous Intelligence, hộ chiếu Montenegro tới được 126 điểm đến không cần xin thị thực lãnh sự trước.
Tổng quan chương trình
- Tên chính thức chương trình: Montenegro Citizenship by Investment Programme
- Website: gov.me
- Cơ quan quản lý: Ministarstvo unutrašnjih poslova
Ngưỡng vốn tối thiểu
Chương trình đặt hai mức tiền khác nhau, và chênh lệch giữa hai mức chính là công cụ chính sách chứ không phải chuyện kỹ thuật.
Điều 10 khoản 3 của Quyết định về tiêu chí, cách thức và thủ tục lựa chọn người có thể nhập quốc tịch Montenegro để thực hiện Chương trình đầu tư đặc biệt đặt ngưỡng này. Quyết định đăng công báo số 079/18, 012/20, 143/21 và 068/22.
Điều khoản quy định nguyên văn rằng đương đơn có thể nhập quốc tịch theo chương trình nếu đã ký gửi vào tài khoản escrow khoản tiền tối thiểu 450.000 EUR để đầu tư vào một trong các dự án phát triển tại thủ đô Podgorica hoặc vùng ven biển.
Lối còn lại là khoản tiền tối thiểu 250.000 EUR để đầu tư vào một trong các dự án phát triển tại vùng Bắc hoặc vùng Trung tâm, trừ thủ đô Podgorica.
Nói cách khác, cùng một tấm hộ chiếu có hai giá, và giá rẻ hơn 200.000 EUR dành cho người bỏ tiền vào vùng kém phát triển — chương trình dùng mức ngưỡng để lái vốn về phía bắc thay vì về bờ biển.
Hai điểm về cơ chế cần đọc kèm. Thứ nhất, tiền không nộp thẳng cho nhà nước mà ký gửi vào tài khoản escrow rồi mới chuyển cho dự án, nên tại thời điểm nộp hồ sơ khoản tiền đã nằm ngoài tầm tay đương đơn nhưng chưa vào tay ai khác.
Thứ hai, việc chuyển tiền phải được kiểm toán viên độc lập xác nhận theo thủ tục quy định tại Điều 15 khoản 3 của chính Quyết định ấy, và các báo cáo kiểm toán này là căn cứ để Cơ quan Đầu tư ghi nhận khoản đã nộp. Đọc theo đúng mốc: Đây là ngưỡng của quãng chương trình còn nhận hồ sơ, tức tới hết ngày 31/12/2022
Kết quả pháp lý
Chương trình đã đóng, và nay có thể nói đóng ra sao chứ không chỉ nói đã đóng. Báo cáo của Chính phủ Montenegro về tình trạng Chương trình đầu tư đặc biệt, lập theo số liệu tới ngày 31/01/2025, viết thẳng rằng chương trình kéo dài tới ngày 31 tháng mười hai năm 2022 — nên sau mốc ấy không còn hồ sơ mới.
Khung pháp lý được nêu kèm: Quyết định của Chính phủ ngày 22/11/2018 về tiêu chí, cách thức và thủ tục lựa chọn người có thể nhận quốc tịch Montenegro, đăng Công báo số 79/18 và sửa ba lần ở các số 12/20, 143/21 và 68/22; trên cơ sở đó Bộ chủ quản phát lời mời công khai ngày 26/02/2019.
Phần đáng đọc nhất là con số kết cục, vì nó cho thấy một chương trình đã đóng vẫn còn hồ sơ đang chạy nhiều năm sau. Tính tới ngày chương trình khép lại, tổng số đơn xin nhận quốc tịch Montenegro là một nghìn một trăm mười ba.
Tới ngày 31/01/2025, trong số ấy: Tám trăm sáu mươi hồ sơ đã có quyết định cho nhập quốc tịch và đã được trao hộ chiếu. Hai trăm ba mươi chín hồ sơ bị từ chối, do ý kiến tiêu cực của đơn vị thẩm định quốc tế hoặc do không đáp ứng tiêu chí của Quyết định.
Mười một hồ sơ được Cơ quan Đầu tư báo cáo lên Thủ tướng là đã đủ tiêu chí theo Điều 10 và Điều 13, và đang chờ Bộ Nội vụ quyết định. Một hồ sơ đang được kiểm soát việc chuyển tiền bởi kiểm toán viên độc lập và hai hồ sơ nữa đang ở chỗ kiểm toán viên.
Báo cáo còn tách số đơn theo ba đơn vị trung gian được phép làm đại diện, kèm tên từng đơn vị.
Một con số tài chính đi kèm cho thấy quy mô dòng tiền: Ngày 13/01/2023, ba mươi hai triệu chín trăm chín mươi chín nghìn tám trăm bốn mươi chín euro tám mươi xu đã được chuyển từ tài khoản dành cho phát triển các đơn vị tự quản kém phát triển sang Tài khoản Trung ương của Kho bạc Nhà nước.
Thời gian xử lý công bố
Chương trình có ba mốc thời gian và một trần số lượng, và cả bốn đều nằm trong văn bản chứ không phải suy đoán. Quyết định được Chính phủ thông qua tại phiên họp ngày 22/11/2018 và đăng công báo số 79/18 ngày 07/12/2018, với quy định tự ấn định rằng nó áp dụng từ ngày 01/01/2019 đến ngày 31/12/2021.
Chương trình bắt đầu chạy đúng ngày 01/01/2019, và thời hạn ban đầu sau đó được gia hạn tới ngày 31/12/2022. Trần số lượng là điểm ít được nhắc nhưng quyết định quy mô của cả chương trình: Trong suốt thời gian chương trình chạy, chỉ được ban hành quyết định nhập quốc tịch đối với tối đa 2.000 hồ sơ.
Đặt cạnh số thực tế thì thấy trần ấy chưa bao giờ chạm tới.
Bảng của Cơ quan Đầu tư Montenegro, chốt ngày 01/09/2026 — một bảng thống kê không kèm ngày chốt thì không đọc được, nên ngày ấy phải đi liền con số — ghi tổng 1.113 hồ sơ do ba đại lý được uỷ quyền chuyển tới, trong đó 869 hồ sơ đã có quyết định nhập quốc tịch của Bộ Nội vụ và 239 bị từ chối.
Bảng tách theo từng đại lý, và cộng lại thì khớp cả ba cột: Apex Capital Partners doo Podgorica nộp 287, được 216, bị từ chối 70; Henley and Partners Government Services Ltd đăng ký tại Jersey nộp 531, được 431, bị từ chối 97; Arton Group GmbH của Áo nộp 295, được 222, bị từ chối 72.
Lý do từ chối được nêu chung cho cả 239 hồ sơ: Ý kiến tiêu cực của đại lý thẩm định tính phù hợp quốc tế, hoặc không đáp ứng các tiêu chí do Quyết định đặt ra.
Một thay đổi về thẩm quyền cũng thuộc dòng thời gian này: Bản sửa Quyết định trong năm 2020 chuyển toàn bộ công việc triển khai chương trình sang cơ quan đầu tư Montenegro, và bản sửa ấy đăng công báo số 12/20 ngày 11/03/2020.
Đọc theo đúng mốc: Chương trình đã ngừng nhận hồ sơ mới từ sau ngày 31/12/2022, nhưng việc chuyển tiền và quyết toán vẫn kéo dài nhiều năm sau đó
Yêu cầu cư trú thực tế
Quyết định không đặt một nghĩa vụ cư trú nào, và đọc hết mười tám điều của nó thì thấy vì sao.
Bản đồ điều khoản đi từ đối tượng và định nghĩa chương trình, qua việc cấp phép cho đại lý trung gian và đại lý thẩm định quốc tế, tới tiêu chí của đương đơn, dự án phát triển, hồ sơ xin nhập quốc tịch, tiêu chí cho thân nhân, kiểm soát khoản nộp, trần số lượng, chế tài khai man, rồi hiệu lực.
Không có một điều nào về cư trú.
Thứ ràng buộc người nộp là một bộ nghĩa vụ khác hẳn, và nghĩa vụ đầu tiên là không được tự đi: Theo Điều 13, hồ sơ xin nhập quốc tịch phải nộp thông qua đại lý trung gian có giấy phép, cho cả đương đơn lẫn thân nhân, trên mẫu do cơ quan có thẩm quyền ấn định và công bố trên trang của mình.
Kèm hồ sơ phải có bản sao công chứng hộ chiếu và chứng minh thư, trích lục đăng ký khai sinh, trích lục đăng ký kết hôn, giấy chứng nhận bảo hiểm có hiệu lực tại Montenegro bao gồm bảo hiểm Y tế, và giấy xác nhận không mắc bệnh truyền nhiễm do nước mà đương đơn mang quốc tịch cấp theo pháp luật nước đó.
Thân nhân được định nghĩa hẹp: Vợ chồng; con của đương đơn đã đủ 18 tuổi mà đương đơn đang cấp dưỡng; và con dưới 18 tuổi, những người này có thể nhập quốc tịch khi đủ tuổi thành niên.
Thân nhân phải đáp ứng tiêu chí thẩm định của Điều 10, còn vợ chồng và con đã đủ 18 tuổi thì phải đáp ứng thêm tiêu chí không án tích.
Nghĩa vụ nặng nhất nằm ở phía sau ngày nhập tịch, và nó không có thời hiệu ghi trong văn bản.
Theo Điều 17, về sau có thể xác định rằng người đã nhập quốc tịch khai sai hoặc cố ý che giấu tình tiết liên quan tới tiêu chí Điều 10 và Điều 13, hoặc đại lý thẩm định quốc tế đã đưa dữ liệu không chính xác vào báo cáo.
Khi ấy cơ quan có thẩm quyền thông báo cho cơ quan quản lý nội vụ để ra quyết định mất quốc tịch Montenegro.
Và mất theo lý do ấy thì không có quyền đòi lại những khoản đã nộp theo Điều 10.
Người phụ thuộc được kèm
Thành viên gia đình không nằm trong chương trình từ đầu mà được thêm vào sau, và mốc thêm vào tra được chính xác.
Bộ Nội vụ ghi rằng bản sửa Quyết định trong năm 2020, ngoài việc chuyển công việc sang Cơ quan Đầu tư, còn mở diện nhập quốc tịch theo chương trình cho cả thành viên gia đình của đương đơn là người dưới 18 tuổi, và bản sửa ấy đăng trên công báo Montenegro số 12/20 ngày 11/03/2020.
Suy ra được điều gì và không suy ra được điều gì là chỗ cần cẩn thận.
Suy ra được: Trước tháng 3 năm 2020, diện này chưa bao gồm thành viên gia đình, nên hồ sơ nộp trong năm 2019 đứng trên một khuôn khổ khác với hồ sơ nộp từ 2020 trở đi.
Không suy ra được: Văn bản trích dẫn chỉ nói tới thành viên gia đình dưới 18 tuổi, nên không biết vợ hoặc chồng được xử lý ra sao, không biết có diện cho bạn đời chưa đăng ký kết hôn hay không, và không biết cha mẹ có được đi cùng hay không.
Điều kiện đầy đủ nằm ở Điều 13 của chính Quyết định, mà toàn văn điều ấy chưa đọc được.
Về quy mô thực tế của phần gia đình, có một bộ số nhưng phải nói rõ nó đứng ở đâu: Tính tới ngày 14/05/2022, 279 đề xuất ứng với 279 đương đơn chính và 655 thành viên gia đình, tổng cộng 934 người, tức trung bình mỗi hồ sơ mang theo khoảng 2,35 người phụ thuộc.
Bộ số ấy không đọc lại được trong các tài liệu hiện có của bản ghi này — không nguồn nào trong bốn nguồn chứa ba con số ấy — nên nó đứng như một ghi nhận cũ chứ không phải một số liệu kiểm lại được.
Và nó cũng không làm mới được: Bảng hiện hành của Cơ quan Đầu tư, chốt ngày 01/09/2026, chỉ thống kê hồ sơ và không tách theo thân nhân; tài liệu ấy không nhắc tới gia đình.
Thêm một giới hạn của chính bộ số cũ: Tài liệu dùng cụm thành viên gia đình mà không tách theo quan hệ, nên con số 655 không cho biết bao nhiêu là con và bao nhiêu là vợ chồng
Số nước miễn thị thực
Người được cấp quốc tịch theo chương trình này nhận hộ chiếu Montenegro, nên con số của ô này là con số của chính hộ chiếu ấy.
Theo Passport Index của Prosperous Intelligence, dữ liệu ngày 30/09/2026, hộ chiếu Montenegro tới được 126 điểm đến mà không cần xin thị thực lãnh sự trước. Con số ấy gộp ba hình thức nhập cảnh và không tính thị thực điện tử phải xin trước:
| Hình thức nhập cảnh | Số điểm đến |
|---|---|
| Miễn thị thực | 97 |
| Thị thực cấp tại cửa khẩu | 24 |
| Giấy phép du lịch điện tử (eTA) | 5 |
| Cộng, là con số của Passport Index | 126 |
| Thị thực điện tử phải xin trước, không cộng | 59 |
Vì vậy đây là thước đo mức đi lại thuận tiện, không phải số nước miễn thị thực theo nghĩa hẹp.
Để đối chiếu, cùng nguồn và cùng cách đếm, hộ chiếu Việt Nam tới được 44 điểm đến. Hai danh sách điểm đến không lồng vào nhau, nên hiệu số chỉ là chỉ dấu chứ không phải danh sách những nơi được mở thêm.
Prosperous Intelligence ghi ngày cho dữ liệu và khuyến nghị xác minh với cơ quan chính thức của nước đến trước khi đi.
Nghĩa vụ thuế phát sinh
Chương trình đã đóng nhận hồ sơ, và đó là chữ của chính Chính phủ: Báo cáo tình trạng Chương trình đầu tư đặc biệt tại ngày 01/09/2026 của Bộ Phát triển vùng và đầu tư viết rằng chương trình kéo dài tới ngày 31/12/2022.
Số liệu hồ sơ trong báo cáo ấy:
| Chỉ tiêu | Số lượng |
|---|---|
| Trần hồ sơ | 2.000 |
| Hồ sơ thực nhận | 1.113 |
| Quyết định nhập tịch đã ban hành | 869 |
| Hồ sơ bị từ chối | 239 |
| Hồ sơ còn nằm ở Bộ Nội vụ | 5 |
Về tiền, báo cáo ghi các khoản sau, tính bằng euro:
| Khoản | Số tiền (euro) |
|---|---|
| Đã chuyển cho nhà đầu tư dự án du lịch | 251.472.956,09 |
| Đã chuyển cho nông nghiệp và chế biến | 500.000 |
| Phí hành chính vào tài khoản kho bạc | 43.575.344,62 |
| Quyên góp phát triển vùng trong năm 2023 | 33.300.000 |
| Còn nằm trên tài khoản escrow | 1.835.000 |
Báo cáo ấy không nhắc tới thuế, tư cách cư trú hay thu nhập: Kiến trúc tiền của chương trình được mô tả bằng quyên góp, đầu tư, phí hành chính và escrow, không bằng thuế.
Quyết định nền thông qua ngày 22/11/2018 và sửa ba lần cũng không nhắc tới những điều ấy.
Mô-típ loại trừ nằm ở chỗ khác và rất rõ: Luật Quốc tịch Điều 8 khoản 1 điểm 8 buộc người xin nhập tịch thông thường phải đã thanh toán xong nghĩa vụ thuế và nghĩa vụ luật định đến hạn.
Nhưng Điều 12, tức điều mà chương trình đầu tư đứng trên, cho nhập tịch ngoại lệ vì lợi ích nhà nước, khoa học, kinh tế, văn hoá hay thể thao ngay cả khi người ấy không đáp ứng các điều kiện của Điều 8.
Điều kiện sạch nợ thuế vì vậy bị gạt ra khỏi đúng tuyến đầu tư. Một điều phải nói cho đúng: Quyết định nền vẫn mang trạng thái còn hiệu lực trên công báo để xử nốt hồ sơ tồn, nên viết rằng chương trình đã bị bãi bỏ là sai; viết rằng đã đóng nhận hồ sơ và đang xử lý tồn mới đúng.
Chi phí bắt buộc ngoài khoản đầu tư
Ngoài khoản đầu tư còn một khoản thứ hai bắt buộc, và gộp hai khoản làm một là hiểu sai tổng chi phí. Đó là khoản hiến tặng 100.000 EUR mỗi hồ sơ, dành cho việc phát triển các đơn vị chính quyền địa phương kém phát triển.
Khoản này đi theo một đường riêng: Tiền nằm trên tài khoản escrow của đương đơn được chuyển sang tài khoản mà Cơ quan Đầu tư Montenegro mở tại ngân hàng CKB, và việc chuyển chỉ được thực hiện sau khi kiểm toán viên độc lập được thuê để kiểm soát các khoản nộp gửi báo cáo xác nhận rằng khoản tiền dành cho hiến tặng đã được chuyển.
Đây không phải quy định nằm trên giấy: Các đợt chuyển trong năm 2024 được ghi từng lần kèm số hồ sơ tương ứng, mỗi lần chia đúng 100.000 EUR một hồ sơ. Bốn đợt lần lượt diễn ra ngày 21/06/2024, 25/07/2024, 30/08/2024 và 27/09/2024, theo thứ tự các dòng dưới đây:
| Đợt chuyển năm 2024 | Số tiền (EUR) | Số hồ sơ |
|---|---|---|
| Đợt thứ nhất | 6.700.000 | 67 |
| Đợt thứ hai | 7.500.000 | 75 |
| Đợt thứ ba | 1.900.000 | 19 |
| Đợt thứ tư | 2.500.000 | 25 |
Ở tầng ngân sách, tổng số tiền nằm trên tài khoản phát triển vùng kém phát triển của Cơ quan Đầu tư đã được chuyển về tài khoản trung tâm của kho bạc nhà nước ngày 13/01/2023, với số tiền 32.999.849,80 EUR; và riêng trong năm 2023, tổng số tiền vào tài khoản hiến tặng của Cơ quan tại ngân hàng CKB là 33.300.000 EUR.
Đọc theo đúng mốc: Khoản 100.000 EUR là nghĩa vụ của quãng chương trình còn nhận hồ sơ, tới hết 31/12/2022, còn các đợt chuyển tiền nêu trên là phần quyết toán diễn ra sau khi chương trình đã đóng
Lựa chọn đầu tư
| Lựa chọn | Ngưỡng | Loại hình | Trạng thái |
|---|---|---|---|
| Dự án phát triển tại thủ đô Podgorica hoặc vùng ven biển | 450.000 EUR | Khác | Đã đóng |
| Dự án phát triển tại vùng Bắc hoặc vùng Trung tâm | 250.000 EUR | Khác | Đã đóng |