Malta cấp Nomad Residence Permit cho công dân nước thứ ba làm việc từ xa cho chủ sử dụng lao động, công ty hoặc khách hàng ở nước ngoài, với thu nhập gộp năm tối thiểu 42.000 EUR. Giấy phép cấp một năm, gia hạn được tới tổng bốn năm do cơ quan tuỳ quyết, mỗi lần gia hạn phải chứng minh đã ở Malta cộng dồn tối thiểu năm tháng trong mười hai tháng trước đó, và không dẫn tới thường trú hay quốc tịch; theo Prosperous Intelligence, hộ chiếu Malta, cấp cho công dân chứ không cho người giữ giấy phép, tới được 201 điểm đến không cần xin thị thực lãnh sự trước.
Tổng quan chương trình
- Tên chính thức chương trình: Nomad Residence Permit
- Website: residencymalta.gov.mt
- Cơ quan quản lý: Residency Malta Agency
Ngưỡng vốn tối thiểu
Thu nhập gộp năm tối thiểu là 42.000 EUR. Nhưng có một điều khoản chuyển tiếp làm hai người cùng giữ một loại giấy phép chịu hai ngưỡng khác nhau: Người đã nộp hồ sơ trước ngày 01/04/2024 vẫn giữ mức cũ là 32.400 EUR, và mức cũ ấy cũng là mức áp khi họ xin gia hạn.
Đương đơn phải chứng minh có nguồn thu nhập được bảo đảm trong tối thiểu năm tháng cộng dồn tính từ ngày nộp đơn.
Cách chứng minh khác nhau theo tình trạng.
Người làm công nộp hợp đồng lao động nêu rõ nghĩa vụ với chủ sử dụng, mô tả công việc và ghi rõ công việc có thể làm từ xa không phụ thuộc địa điểm, kèm sao kê ngân hàng thể hiện thu nhập ba tháng gần nhất.
Người tự doanh nộp sao kê tài khoản đứng tên mình thể hiện thu nhập từ hoạt động tự doanh trong ba tháng gần nhất, kèm Giấy chứng nhận Thành lập và Sổ đăng ký Cổ đông
Kết quả pháp lý
Thứ được cấp là Giấy phép Cư trú Du mục, và giấy phép ấy không dẫn tới đâu ngoài chính nó. Bộ câu hỏi đáp của Cơ quan Cư trú Malta, bản 14.1 cập nhật ngày 17/04/2026, trả lời thẳng rằng giấy phép không dẫn tới bất kỳ hình thức thường trú, cư trú dài hạn hay quốc tịch nào.
Nó cũng không chuyển được sang Chương trình Thường trú Malta, vì cơ quan coi đó là hai chương trình cư trú tách biệt. Mỗi người chỉ giữ một tư cách tại một thời điểm, nên khi giấy phép du mục được cấp thì mọi giấy phép khác người ấy đang giữ tự động bị thu hồi.
Phạm vi làm việc hẹp hơn tên gọi gợi ra. Người được một công ty nước ngoài thuê để phục vụ công ty con của chính công ty ấy tại Malta không đủ điều kiện; người trực tiếp hay gián tiếp cung cấp dịch vụ cho công ty hoặc cá nhân đặt tại Malta cũng vậy.
Việc cấp phép luôn là quyền tuỳ nghi của cơ quan, và chương trình không tạo ra nghĩa vụ phải cấp. Quyết định của cơ quan là cuối cùng, đương đơn không được khiếu nại, và hồ sơ bị từ chối chỉ được nộp lại sau 12 tháng kể từ ngày có thư từ chối.
Ngay cả khi đã được duyệt, giấy phép vẫn có thể bị thu hồi nếu cơ quan biết thêm thông tin bất lợi về đương đơn chính hoặc người phụ thuộc, hoặc phát hiện vi phạm một hay nhiều tiêu chí của chương trình.
Thời gian xử lý công bố
Cơ quan công bố thời gian xử lý dự kiến là ba mươi ngày làm việc, tính từ ngày Phòng Tài chính phát giấy biên nhận đã nhận được tiền, và trong quãng ấy Cơ quan Cư trú Malta tiến hành thẩm tra nhân thân. Ba mươi ngày làm việc ấy không bao gồm thời gian cần cho việc cấp thị thực, nên tổng thời gian cho tới lúc đi được dài hơn con số được công bố.
Giấy phép đầu tiên cấp cho một năm, gia hạn được ba lần, tổng thời gian lưu trú tối đa bốn năm, và việc gia hạn thuộc quyền quyết định của Cơ quan Cư trú Malta với điều kiện đương đơn vẫn đáp ứng tiêu chí chương trình.
Đơn gia hạn phải nộp trước ngày hết hạn từ hai tới ba tháng, và đây là trách nhiệm của chính người giữ giấy phép. Hai điều dễ hiểu nhầm: Biên nhận nộp hồ sơ gia hạn không phải là sự gia hạn thời gian lưu trú, và hồ sơ của người đang lưu trú quá hạn sẽ bị từ chối.
Nếu không nộp gia hạn hoặc đơn gia hạn bị từ chối thì được nộp hồ sơ mới sau mười hai tháng kể từ ngày giấy phép trước hết hạn — nhưng đồng hồ không quay về không: Những lần lưu trú trước theo giấy phép này vẫn được tính vào trần bốn năm
Yêu cầu cư trú thực tế
Đương đơn phải là công dân nước thứ ba, tức không thuộc Liên minh châu Âu, không thuộc Khu vực Kinh tế châu Âu và không phải công dân Thuỵ Sĩ, và phải chứng minh được làm việc từ xa bằng phương tiện viễn thông. Đương đơn phải từ 18 tuổi trở lên.
Bộ câu hỏi đáp bản 14.1 loại trừ công dân của, hoặc người có quan hệ gần gũi với, Afghanistan, Triều Tiên, Iran, Cộng hoà Dân chủ Congo, Somalia, Nam Sudan, Sudan, Yemen và Venezuela; hồ sơ từ Liên bang Nga và Cộng hoà Belarus hiện cũng không được nhận. Cơ quan có thể tuỳ quyết điều chỉnh danh sách này theo thời gian, và Việt Nam không có trong danh sách.
Phải thuộc một trong ba nhóm: Làm cho một chủ sử dụng lao động đăng ký tại nước ngoài và có hợp đồng lao động; tiến hành hoạt động kinh doanh cho một công ty đăng ký ở nước ngoài mà mình là thành viên góp vốn hoặc cổ đông; hoặc cung cấp dịch vụ tự do, dịch vụ tư vấn cho khách hàng có cơ sở thường trú ở nước ngoài và có hợp đồng với họ.
Một loại trừ ít được nhắc: Người được một công ty nước ngoài ký hợp đồng nhưng lại cung cấp dịch vụ cho công ty con tại Malta của chính công ty ấy thì không đủ điều kiện.
Ràng buộc thứ hai nằm ở khâu gia hạn: Người giữ giấy phép phải nộp sao kê ngân hàng thể hiện các giao dịch thanh toán thực hiện tại Malta, để chứng minh đã cư trú tại Malta cộng dồn tối thiểu năm tháng trong mười hai tháng trước đó.
Ngoài ra phải có giấy thông hành hợp lệ, bảo hiểm y tế phủ rủi ro trong Liên minh châu Âu kể cả Malta và Vương quốc Anh, hợp đồng thuê hoặc mua bất động sản còn hiệu lực, giấy chứng nhận hạnh kiểm, và phải qua được phép kiểm tra lý lịch
Người phụ thuộc được kèm
Được kèm theo thành viên gia đình: Vợ hoặc chồng, con chưa thành niên, con đã thành niên chưa kết hôn còn phụ thuộc, và con đã thành niên không tự lo được cho mình vì bệnh hay khuyết tật. Danh mục giấy tờ bản 11 còn nhận bạn đời chung sống thực tế, tức cặp chưa kết hôn đã có quan hệ ổn định và liên tục trên hai năm liền, với bản khai do cả hai ký và ảnh có ghi ngày làm bằng chứng. Con có thể là con của đương đơn chính, của vợ hoặc chồng, hoặc của cả hai.
Người phụ thuộc xin giấy phép theo cùng điều kiện và nộp cùng lúc với đương đơn chính.
Với con chưa thành niên mà đương đơn không giữ quyền nuôi con duy nhất, và cha mẹ không cùng có mặt trong một hồ sơ, phải được Cơ quan Cư trú Malta chấp thuận trước mới đưa vào. Cơ quan xét từng trường hợp.
Thời điểm đưa người vào hồ sơ là điều cần tính trước. Sau khi đã nộp phí hoặc đã được duyệt thì không thêm được người phụ thuộc nào; chỉ có thể thêm khi đương đơn chính xin gia hạn.
Ngoại lệ duy nhất là trẻ sơ sinh, được bổ sung bằng mẫu N2, mẫu N4, bản sao hộ chiếu và bản sao giấy khai sinh gửi tới cơ quan. Phí hồ sơ và phí thẻ cư trú tính theo từng người, và được ghi ở ô chi phí của trang này.
Người phụ thuộc chịu cùng giới hạn về công việc như đương đơn chính: Họ không được cung cấp dịch vụ hay tham gia bất kỳ hoạt động kinh tế nào với chủ sử dụng lao động hoặc công ty có trụ sở hay đăng ký tại Malta.
Số nước miễn thị thực
Tư cách mà chương trình này cấp, dù là thị thực hay thẻ cư trú, không thay hộ chiếu của người giữ. Người giữ vẫn đi lại bằng hộ chiếu của nước mình, nên con số dưới đây là của hộ chiếu Malta và chỉ trở thành của người giữ khi họ được cấp hộ chiếu Malta.
Theo Passport Index của Prosperous Intelligence, dữ liệu ngày 30/09/2026, hộ chiếu Malta tới được 201 điểm đến mà không cần xin thị thực lãnh sự trước. Con số ấy gộp ba hình thức nhập cảnh và không tính thị thực điện tử phải xin trước:
| Hình thức nhập cảnh | Số điểm đến |
|---|---|
| Miễn thị thực | 168 |
| Thị thực cấp tại cửa khẩu | 23 |
| Giấy phép du lịch điện tử (eTA) | 10 |
| Cộng, là con số của Passport Index | 201 |
| Thị thực điện tử phải xin trước, không cộng | 31 |
Vì vậy đây là thước đo mức đi lại thuận tiện, không phải số nước miễn thị thực theo nghĩa hẹp.
Để đối chiếu, cùng nguồn và cùng cách đếm, hộ chiếu Việt Nam tới được 44 điểm đến. Hai danh sách điểm đến không lồng vào nhau, nên hiệu số chỉ là chỉ dấu chứ không phải danh sách những nơi được mở thêm.
Prosperous Intelligence ghi ngày cho dữ liệu và khuyến nghị xác minh với cơ quan chính thức của nước đến trước khi đi.
Nghĩa vụ thuế phát sinh
Nghĩa vụ thuế của người giữ giấy phép có thể phát sinh theo cả pháp luật nước ngoài lẫn pháp luật Malta. Về thuế thu nhập theo luật Malta, văn bản áp dụng là Văn bản Phụ trợ 123.210 tức Quy tắc Thuế Thu nhập đối với Giấy phép Cư trú Du mục, cùng các quy định liên quan của các Đạo luật Thuế Thu nhập là Chương 123 và Chương 372 Luật Malta.
Điểm cốt mà chính cơ quan cấp viết ra: Việc một người được cấp giấy phép không đương nhiên có nghĩa là người ấy được hưởng chế độ thuế theo Văn bản Phụ trợ 123.210 — muốn chịu thuế theo bộ quy tắc ấy thì còn phải thoả mãn tất cả các điều kiện nêu trong chính nó.
Các điều kiện và mức thuế ấy nằm trong chính Văn bản Phụ trợ 123.210. Người giữ giấy phép với tư cách đương đơn chính chịu thuế thu nhập 10% trên thu nhập từ «công việc được phép», tức dịch vụ làm từ xa bằng phương tiện viễn thông theo hợp đồng lao động với một chủ sử dụng lao động, hoặc với tư cách tự doanh cho khách hàng, không cư trú tại Malta và không kinh doanh tại Malta qua một cơ sở cố định, có trừ khoản giảm thuế hai lần theo luật thuế thu nhập.
Theo quy tắc 3 khoản 3, thu nhập ấy không bị đánh thuế trong mười hai tháng tính từ ngày cấp giấy phép hoặc từ 01/01/2024, lấy mốc muộn hơn, trừ khi người giữ tự nộp cho Cơ quan Cư trú Malta một bản khai rằng việc cư trú tại Malta, kể cả trong mười hai tháng ấy, không đơn thuần mang tính nhất thời. Theo quy tắc 4 khoản 3, nếu có văn bản chính thức chứng minh đã nộp thuế ở nước ngoài trên thu nhập ấy với mức ít nhất 10% thì không phải khai thu nhập ấy cho mục đích thuế thu nhập Malta.
Cơ quan Thuế và Hải quan Malta ghi thêm trong hướng dẫn về bộ quy tắc rằng việc được chấp nhận là người du mục không đem lại tư cách cư trú thuế.
Từ lần gia hạn thứ hai và thứ ba, đương đơn chính phải nộp thêm một bản khai xác nhận tuân thủ mọi luật và quy định thuế áp cho hoàn cảnh riêng của mình, bao gồm các nghĩa vụ khai báo, nộp thuế và nghĩa vụ khác liên quan tới thu nhập kiếm được trong suốt thời gian giấy phép; bản khai tải từ cổng và nộp kèm hồ sơ gia hạn.
Cơ quan Cư trú Malta tuyên bố rõ họ không tư vấn thuế và không chịu trách nhiệm về việc tuân thủ thuế hay cách hiểu luật thuế của đương đơn
Chi phí bắt buộc ngoài khoản đầu tư
Phí hành chính là 300 EUR mỗi người và không hoàn lại, nhưng ba điều kiện quanh khoản ấy mới là phần dễ làm hỏng một hồ sơ đúng về nội dung. Thứ nhất là thời điểm: Phí chưa phải trả lúc nộp đơn.
Hồ sơ được một cán bộ Quan hệ Khách hàng và Tuân thủ của chương trình kiểm xem đã nộp đủ giấy tờ yêu cầu chưa, rồi cơ quan mới phát một giấy biên nhận kèm hướng dẫn nộp phí.
Thứ hai là cách trả: Chỉ nhận chuyển khoản ngân hàng, và tiền phải đi trực tiếp từ tài khoản của chính đương đơn chính — một khoản do người khác chuyển hộ không đáp ứng yêu cầu ấy.
Thứ ba là hệ quả: Việc xử lý hồ sơ chỉ bắt đầu sau khi tiền về, nên mọi mốc thời gian đều đếm từ đó chứ không đếm từ ngày nộp đơn; thời gian xử lý được ghi ở ô thời gian của trang này.
Phí hành chính không phải khoản duy nhất. Bộ câu hỏi đáp bản 14.1 liệt kê thêm phí cấp thẻ cư trú 100 EUR mỗi người do Identità cấp, nộp trực tiếp tại văn phòng Cơ quan Cư trú Malta và chỉ nhận thanh toán bằng thẻ, không nhận tiền mặt, cùng các khoản phí liên quan tới thị thực nếu đương đơn thuộc diện phải xin thị thực, như công dân Việt Nam. Thay đổi địa chỉ trong thời gian giữ giấy phép mất thêm 50 EUR, nộp bằng chuyển khoản hoặc tại văn phòng cơ quan.
Lựa chọn đầu tư
| Lựa chọn | Ngưỡng | Loại hình | Trạng thái |
|---|---|---|---|
| Thu nhập gộp hằng năm | 42.000 EUR/năm | Khác | Đang mở |