Malta có thể cấp quốc tịch theo cống hiến cho người thực hiện dịch vụ đặc biệt, người tạo đóng góp đặc biệt, hoặc người mà việc nhập tịch là lợi ích đặc biệt đối với Malta, theo Điều 10 khoản 9 Đạo luật Quốc tịch Malta, không có ngưỡng vốn, do Bộ trưởng quyết tuỳ nghi. Cơ quan Community Malta nói rõ đây không phải một chương trình, người xin phải cư trú tại Malta ít nhất tám tháng ngay trước ngày nộp đơn, và theo Prosperous Intelligence, hộ chiếu Malta tới được 202 điểm đến không cần xin thị thực lãnh sự trước.
Citizenship by Merit được cấp theo pháp luật quốc tịch của Malta. Cơ quan quản lý tuyên bố đây không phải một chương trình và không cho phép tiếp thị hay quảng bá đạo luật này.
Tổng quan chương trình
- Tên chính thức chương trình: Malta Citizenship by Merit
- Website: komunita.gov.mt
- Cơ quan quản lý: Community Malta Agency
Ngưỡng vốn tối thiểu
Không có ngưỡng vốn, và điều đáng nói là cái không có ấy nay chứng minh được bằng ba cách chứ không phải bằng một câu tuyên bố. Cách thứ nhất là đọc phép thử thực chất, nằm ở Điều 10 khoản 9 Đạo luật Quốc tịch Malta.
Bất kể quy định nào của Đạo luật này hay đạo luật khác, Bộ trưởng có thể cấp giấy chứng nhận nhập tịch theo cống hiến cho người nước ngoài hoặc người không quốc tịch.
Ba nhóm được nêu tên: Người thực hiện một dịch vụ đặc biệt; người tạo một đóng góp đặc biệt, kể cả thông qua việc tạo việc làm, cho Cộng hoà Malta hoặc cho nhân loại; và người mà việc nhập tịch của họ là lợi ích đặc biệt đối với Cộng hoà Malta.
Chính điều luật ấy định nghĩa ba chữ khoá, nên đây không phải chỗ để suy diễn. «Đặc biệt» nghĩa là vượt trội rõ ràng hoặc tạo thêm giá trị.
«Dịch vụ đặc biệt» và «đóng góp đặc biệt» chỉ những gì được thực hiện bởi nhà khoa học, nhà nghiên cứu, vận động viên, người hoạt động thể thao, nghệ sĩ, người biểu diễn văn hoá, doanh nhân, nhà hoạt động thiện nguyện và nhà công nghệ, cùng những người khác mà Cộng hoà Malta quan tâm tuỳ từng thời kỳ.
Còn «lợi ích đặc biệt» chỉ người mà Bộ trưởng cho là có kỹ năng, hồ sơ, phẩm chất, tài năng và chuyên môn cần thiết được xem là thúc đẩy hoặc mang lại lợi ích đáng kể cho lợi ích quốc gia của Malta.
Cách thứ hai là xem những điều khoản từng mang tiền đã biến mất thế nào. Trong Quy định S.L. 188.06, Điều 21 mang đúng tiêu đề «Phí không hoàn lại và đầu tư» đã bị xoá bởi Thông báo Pháp lý số 159 năm 2025, và Điều 30 «Phí» cũng bị xoá.
Trọn phần iv về nhập tịch cho dịch vụ đặc biệt bằng đầu tư trực tiếp, gồm các Điều 15, 16, 17, 18 và 19, trong đó Điều 18 là «Năm năm đầu» và Điều 19 là «Số lượng kết nạp tối đa», đều bị xoá theo cùng một thông báo ấy.
Tức là cái ngưỡng không phải chưa được công bố, nó đã bị gỡ khỏi văn bản, và gỡ theo từng số hiệu điều luật. Cách thứ ba là đọc chính văn bản: Quy định không nêu bất kỳ số tiền nào, bằng đồng euro hay bằng bất kỳ đơn vị nào khác.
Thay cho một con số, khung này đặt một cơ chế bảo chứng. Người bảo chứng là một pháp nhân có thẩm quyền được chỉ định, tức một tổ chức đăng ký tại Malta do Cơ quan chỉ định tuỳ từng thời kỳ.
Pháp nhân ấy có khả năng xác định một người có được công nhận trong một lĩnh vực là tài năng dẫn đầu, hoặc đã thể hiện triển vọng đặc biệt và có khả năng trở thành tài năng dẫn đầu, hay không.
Phụ lục thứ ba của Quy định, phụ lục từng liệt kê chính các pháp nhân ấy, cũng đã bị xoá — nên danh sách hiện nằm ở Cơ quan chứ không nằm trong văn bản.
Kết quả pháp lý
Kết quả là quốc tịch Malta, nhưng cách gọi tên nó là phần quan trọng nhất của ô này.
Aġenzija Komunità Malta, cơ quan chịu trách nhiệm thi hành pháp luật về quốc tịch, tuyên bố nguyên văn rằng Citizenship by Merit không phải một chương trình, cũng không phải một scheme, một pathway, một sự tiếp nối hay một phương án thay thế cho khung quốc tịch theo đầu tư cũ của Malta.
Khung cũ ấy đã bị bãi bỏ sau phán quyết của Toà án Công lý Liên minh châu Âu ngày 29/4/2025.
Về bản chất quyết định, cơ quan nói rõ: Quyết định cấp quốc tịch theo cống hiến là tuỳ nghi, và từng hồ sơ được xét nghiêm ngặt và cẩn trọng theo từng trường hợp.
Còn một câu nữa cần đọc kèm: Cơ quan cho biết họ đã ghi nhận các bài đăng mạng xã hội và những hình thức truyền thông khác mô tả sai về Citizenship by Merit, và họ không cho phép bất kỳ hoạt động tiếp thị hay quảng bá nào đối với đạo luật này.
Một điều phải nói rõ về số hiệu văn bản, vì hai thông báo của chính cơ quan này nêu hai văn bản khác nhau.
Thông báo ngày 05/02/2026, tức nguồn của ô này, viết rằng sau phán quyết ấy thì văn bản đã có từ trước là subsidiary legislation 188.04 of 2017 được xem xét lại công khai qua các quy trình luật định minh bạch.
Nhưng thông báo ngày 02/09/2025 của cùng cơ quan viết rằng subsidiary legislation 188.06 mới là văn bản được sửa đổi để quy định các quy trình và điều kiện điều chỉnh việc cấp quốc tịch bằng con đường nhập tịch trên cơ sở cống hiến, và chỉ sang ba địa chỉ:
Đạo luật số XXI năm 2025, Thông báo Pháp lý số 159 năm 2025, và bản S.L. 188.06 đã được sửa.
Mở văn bản ấy ra thì tên chính thức của nó đúng là Quy định về việc cấp quốc tịch bằng con đường nhập tịch trên cơ sở cống hiến, ban hành bằng Thông báo Pháp lý số 437 năm 2020, được thay thế bởi Thông báo Pháp lý số 159 năm 2025.
Chính Điều 2 của nó nói phạm vi của nó là để quy định các điều kiện và điều chỉnh việc cấp quốc tịch theo Điều 10 khoản 9 Đạo luật.
Vậy nên đọc bảng này phải đọc đúng hai tầng: Cơ quan không công bố một chương trình, còn văn bản pháp luật thì có công bố điều kiện — và các ô còn lại của bảng dẫn S.L. 188.06 cùng Điều 10 khoản 9 chính vì lẽ đó.
Số hiệu 188.04 không phải lỗi đánh máy của thông báo tháng 2: Đó là số hiệu của khung theo đầu tư cũ, và Điều 31 của S.L. 188.06, điều mang tiêu đề bãi bỏ và bảo lưu có dẫn chiếu tới S.L. 188.03 và S.L. 188.04, cũng đã bị xoá bởi Thông báo Pháp lý số 159 năm 2025.
Thời gian xử lý công bố
Quy định không đặt thời hạn xử lý nào cho Cơ quan hay cho Bộ trưởng, nhưng nó đặt một trình tự cố định và ba mốc đếm được, nên thời gian thật đọc được từ trình tự chứ không từ một con số cam kết. Trình tự có hai vòng và không được đảo.
Vòng một: Người xin nộp một thư đề xuất toàn diện cho Hội đồng Thẩm định thông qua Cơ quan.
Cơ quan phải hài lòng về tính đầy đủ của thư, và trước khi chuyển thư cho Hội đồng thì phải cho tiến hành thẩm tra lý lịch bốn tầng trở lên, cho kiểm chứng độc lập mọi thông tin, cho đánh giá rủi ro, và yêu cầu nộp phí hành chính không hoàn lại; rồi Hội đồng thẩm định và khuyến nghị.
Cơ quan trình khuyến nghị lên Bộ trưởng; Bộ trưởng chấp thuận hoặc từ chối và không có nghĩa vụ nêu bất kỳ lý do nào, quyết định là chung thẩm.
Chấp thuận thì Cơ quan phát hành thư chấp thuận về nguyên tắc. Vòng hai: Chỉ người đã có thư chấp thuận về nguyên tắc mới đủ điều kiện nộp đơn xin giấy chứng nhận nhập tịch;
Cơ quan cập nhật thẩm tra lý lịch, có thể yêu cầu thêm giấy tờ và thêm phí; Hội đồng thẩm định tiếp, và ở bước này văn bản chỉ nói phải thực hiện trong một khoảng thời gian hợp lý, không nói bao nhiêu ngày; rồi lại Bộ trưởng, lại không cần nêu lý do, lại chung thẩm.
Ba mốc đếm được. Mốc thứ nhất chạy trước khi có quyền nộp đơn: Tám tháng cư trú mà vòng hai đòi phải nằm trọn trong khoảng liền kề trước ngày nộp — chi tiết của điều kiện ấy thuộc ô điều kiện cư trú, còn điều đáng ghi ở đây là một đồng hồ đã chạy từ khi người ta chưa được phép nộp gì cả.
Mốc thứ hai là sáu tháng kể từ ngày phát hành thư chấp thuận để tuyên thệ trung thành, và Bộ trưởng được gia hạn sáu tháng ấy trong hoàn cảnh ngoại lệ; giấy chứng nhận chỉ được cấp sau khi đã tuyên thệ, và theo Điều 10 khoản 9 Đạo luật thì lời thệ phải thực hiện tại Malta.
Mốc thứ ba không phải mốc xử lý mà là nhiệm kỳ, và phải nói rõ để không ai đọc lẫn: Chủ tịch và các thành viên Hội đồng Thẩm định giữ nhiệm kỳ ba năm và được tái bổ nhiệm — đó là nhiệm kỳ của người xét, không phải thời gian xét một hồ sơ. Hai điều có thể làm đồng hồ dừng hẳn.
Thứ nhất, Cơ quan được quyền tạm dừng hoặc chấm dứt quá trình bất cứ lúc nào trước khi Bộ trưởng cấp giấy chứng nhận, nếu người xin không thoả đủ điều kiện hoặc nếu Bộ trưởng không còn thấy người ấy xứng đáng.
Thứ hai, một khai báo sai sự thật hay một sự bỏ sót thông tin quan trọng, của chính người xin hoặc của bất kỳ người phụ thuộc nào, có thể làm hồ sơ bị tạm dừng hoặc bị coi là không thể thụ lý.
Yêu cầu cư trú thực tế
Có điều kiện cư trú, và nó là một con số: Hồ sơ xin nhập tịch phải kèm chứng cứ đã cư trú tại Malta ít nhất tám tháng trong khoảng thời gian ngay trước ngày nộp đơn — Điều 11B khoản 1 điểm a của Quy định.
Điều kiện ấy đi kèm một điều kiện về chỗ ở mà người đọc dễ bỏ qua vì nó không phải điều kiện tiền: Cùng khoản ấy, điểm b, đòi chứng cứ về quyền sở hữu hoặc quyền thuê một bất động sản nhà ở phù hợp tại Malta.
Có hai chỗ nới.
Người xin là trẻ vị thành niên thì không phải đáp ứng điều kiện chỗ ở. Và người đã nộp thư đề xuất mà không phải người xin chính, nếu vẫn còn là thành viên hộ gia đình của gia đình mình, thì Bộ trưởng được miễn điều kiện ấy khi thấy người ấy không ở vị thế mua hoặc thuê một bất động sản như vậy.
Hai điều kiện nữa nằm cùng chỗ và cũng thuộc về việc gắn mình với Malta: Phải có xác nhận về trình độ tiếng Malta hoặc tiếng Anh đủ dùng, và phải có chứng cứ về mọi mối liên kết khác đã tạo được với Cộng hoà Malta tính tới thời điểm ấy, đúng như đã hứa trong thư đề xuất.
Phần sau khi được cấp mới là phần nặng, và nó cho thấy quốc tịch theo diện này không phải một điểm kết thúc.
Trước khi tuyên thệ, người xin phải cam kết bằng văn bản rằng sẽ tiếp tục tuân thủ và hoàn thành mọi nghĩa vụ tiếp diễn cùng những cam kết khác theo hồ sơ của mình, theo Quy định, hoặc theo những gì Bộ trưởng ghi trong thư chấp thuận;
Cơ quan có nhiệm vụ bảo đảm việc hoàn thành ấy diễn ra liên tục, và khi cần thì được yêu cầu chứng cứ cùng tự mình kiểm chứng.
Chính thư chấp thuận cũng có thể mang thêm những nghĩa vụ tiếp diễn riêng.
Và Điều 24 cho Bộ trưởng quyền tước quốc tịch đã cấp theo Quy định này trong ba trường hợp:
Người ấy không tuân thủ một nghĩa vụ quan trọng hay cam kết nào do Quy định hoặc do thư chấp thuận đặt ra; người ấy trở thành một mối đe doạ đối với an ninh quốc gia; hoặc người ấy dính vào hành vi gây phương hại nghiêm trọng tới lợi ích của Cộng hoà Malta.
Thủ tục tước khi ấy áp theo Điều 14 Đạo luật Quốc tịch Malta.
Người phụ thuộc được kèm
Có chế độ người phụ thuộc, và nó được định nghĩa chi tiết trong Điều 3 Quy định S.L. 188.06 chứ không để mở. Bốn nhóm.
Thứ nhất, vợ hoặc chồng trong một cuộc hôn nhân một vợ một chồng, hoặc bạn đời trong một quan hệ khác có địa vị giống hoặc tương tự hôn nhân một vợ một chồng, bao gồm quan hệ dân sự kết hợp, quan hệ đối tác chung sống và hôn nhân theo thông luật.
Chữ «vợ hoặc chồng» được diễn giải trung tính về giới, và Bộ trưởng giữ quyền tuỳ nghi cho phép, xét từng trường hợp, những quan hệ khác có địa vị tương tự.
Thứ hai, con của người xin chính hoặc của người phụ thuộc thuộc nhóm thứ nhất, kể cả con nuôi, chưa đủ 18 tuổi. Thứ ba, con đã đủ 18 nhưng chưa đủ 29 tuổi, chưa kết hôn, và chứng minh được trước Bộ trưởng rằng mình được người xin chính cấp dưỡng toàn bộ hoặc hỗ trợ phần lớn — một khoảng mười một năm mà rất ít khung quốc tịch nào mở tới.
Thứ tư, con đã đủ 18, được cấp dưỡng toàn bộ hoặc hỗ trợ phần lớn, và là người khuyết tật đủ tiêu chuẩn theo định nghĩa của Đạo luật Cơ hội Bình đẳng dành cho người khuyết tật; nếu người con ấy không có năng lực pháp lý thì áp Điều 21 khoản 3 Đạo luật.
Một chi tiết về thời điểm mà cả bốn nhóm đều phụ thuộc vào, và nó quan trọng hơn vẻ ngoài: Tuổi được chốt vào thời điểm người xin chính nộp thư đề xuất và thư ấy được cơ quan chấp nhận, không phải thời điểm nộp đơn ở vòng hai — nên một người con sắp qua mốc tuổi thì mốc của họ đã được giữ từ vòng một.
Về thủ tục, với người phụ thuộc dưới 18 tuổi thì các mẫu đơn phải do cả hai cha mẹ ký; trường hợp một người có quyền trông giữ duy nhất, hoặc người khác có quyền giám hộ pháp lý, thì phải nộp giấy tờ pháp lý thích hợp chứng minh quyền ấy do một toà án hoặc một cơ quan có thẩm quyền khác trao.
Và điều nặng nhất của ô này: Toàn bộ các căn cứ loại trừ áp cho người xin thì áp luôn cho từng người phụ thuộc. Nhóm thứ nhất là bị truy tố trước một toà hình sự quốc tế dù sau đó được tuyên vô tội, bị đưa vào danh sách của Interpol hoặc Europol, hoặc bị nêu tên trong các lệnh trừng phạt quốc tế.
Nhóm thứ hai là từng bị buộc tội hoặc kết tội về khủng bố, rửa tiền, tài trợ khủng bố, tội chống nhân loại, tội phạm chiến tranh, các tội xâm phạm quyền con người theo Công ước châu Âu, các tội làm rối loạn trật tự gia đình, hay bất kỳ tội nào có mức hình phạt trên một năm tù ngoài tội vô ý.
Và nhóm cuối là việc từng bị một nước có thoả thuận miễn thị thực với Malta từ chối cấp thị thực. Nói cách khác, hồ sơ chỉ đi được bằng người yếu nhất trong nhóm.
Số nước miễn thị thực
Người được cấp quốc tịch theo chương trình này nhận hộ chiếu Malta, nên con số của ô này là con số của chính hộ chiếu ấy.
Theo Passport Index của Prosperous Intelligence, dữ liệu ngày 27/09/2026, hộ chiếu Malta tới được 202 điểm đến mà không cần xin thị thực lãnh sự trước. Con số ấy gộp ba hình thức nhập cảnh và không tính thị thực điện tử phải xin trước:
| Hình thức nhập cảnh | Số điểm đến |
|---|---|
| Miễn thị thực | 169 |
| Thị thực cấp tại cửa khẩu | 23 |
| Giấy phép du lịch điện tử (eTA) | 10 |
| Cộng, là con số của Passport Index | 202 |
| Thị thực điện tử phải xin trước, không cộng | 30 |
Vì vậy đây là thước đo mức đi lại thuận tiện, không phải số nước miễn thị thực theo nghĩa hẹp.
Để đối chiếu, cùng nguồn và cùng cách đếm, hộ chiếu Việt Nam tới được 43 điểm đến. Hai danh sách điểm đến không lồng vào nhau, nên hiệu số chỉ là chỉ dấu chứ không phải danh sách những nơi được mở thêm.
Prosperous Intelligence ghi ngày cho dữ liệu và khuyến nghị xác minh với cơ quan chính thức của nước đến trước khi đi.
Nghĩa vụ thuế phát sinh
Quy định không đặt chế độ thuế nào và cũng không đặt bất kỳ nghĩa vụ thuế nào làm điều kiện: S.L. 188.06 không nhắc tới thuế và cũng không nêu bất kỳ số tiền nào.
Điều đó nhất quán với hình dáng của khung: Một diện mà phép thử là cống hiến chứ không phải một khoản tiền thì không mang theo một chế độ thuế để chào.
Nhưng văn bản có nhắc tới cơ quan thuế, chỉ trong một điều khoản về chia sẻ thông tin, và chiều của nó ngược với điều người đọc hay mong đợi.
Điều 27 khoản 3 quy định rằng bất kể các khoản khác của điều ấy hay bất kể luật nào khác, Cơ quan có quyền cung cấp thông tin thu được cho các mục đích của Quy định này.
Nơi nhận gồm Cục trưởng Cục Thu (Commissioner for Revenue), Đơn vị Phân tích Tình báo Tài chính, Cơ quan Dịch vụ Tài chính Malta, Cơ quan Đăng ký Doanh nghiệp Malta và Tổng Thanh tra Cảnh sát.
Nghĩa là trong khung này cơ quan thuế là bên nhận thông tin về hồ sơ, không phải bên cấp một ưu đãi. Hai điều khoản đi kèm cho thấy dòng thông tin ấy được rào thế nào. Điều 28 buộc giữ mật toàn bộ thông tin thu được qua quá trình thẩm tra lý lịch cùng với các nguồn của nó.
Còn Điều 29 cho phép bất kỳ người nào thực hiện một tiết lộ được bảo vệ với Cơ quan, với điều kiện tiết lộ ấy được làm một cách thiện chí, không nhằm mục đích lợi ích cá nhân, và trên các căn cứ hối lộ, thực hành tham nhũng hoặc hành vi không đúng đắn của người xin chính hay của bất kỳ người phụ thuộc nào.
Còn một giới hạn phải nói rõ để người đọc không cộng thêm thứ không có: Người được nhập tịch theo diện này trở thành công dân Malta, nên vị thế thuế của họ từ đó do luật thuế chung của Malta điều chỉnh — và luật ấy nằm ngoài Quy định này, cũng nằm ngoài mọi ấn phẩm mà cơ quan công bố cho riêng diện này.
Chi phí bắt buộc ngoài khoản đầu tư
Có phí, nhưng không có biểu phí, và hai điều đó cùng đúng vì lý do rất cụ thể: Hai điều khoản từng mang biểu phí đã bị xoá. Điều 21, tiêu đề «Phí không hoàn lại và đầu tư», bị xoá bởi Thông báo Pháp lý số 159 năm 2025; Điều 30, tiêu đề «Phí», cũng bị xoá bởi chính thông báo ấy.
Thứ thay chỗ chúng là một công thức mở: Cơ quan yêu cầu người xin trả các khoản phí hành chính không hoàn lại do cơ quan ấn định tuỳ từng thời kỳ, cùng những khoản phí khác tuỳ trường hợp — và yêu cầu ấy xuất hiện ở cả hai vòng, một lần tại Điều 11A khoản 2 điểm f khi xét thư đề xuất, một lần nữa tại Điều 11B khoản 2 điểm c khi xét đơn.
Toàn bộ văn bản không nêu một con số tiền nào, bằng đồng euro hay bằng đơn vị khác. Phần chi phí thật, tức phần văn bản mô tả công việc phải trả tiền cho người khác làm, thì rõ ràng hơn nhiều.
Trước khi thư đề xuất được đưa ra Hội đồng, Cơ quan phải cho tiến hành thẩm tra lý lịch bốn tầng trở lên, do bên thứ ba thực hiện, trong đó có một hoặc nhiều nhà cung cấp dịch vụ thẩm tra chuyên biệt được công nhận quốc tế, áp cho người xin và từng người phụ thuộc.
Phải cho một hoặc nhiều nhà cung cấp độc lập kiểm chứng toàn bộ thông tin do người xin đưa ra. Phải cho kiểm chứng lý lịch của người xin và người phụ thuộc; và phải bảo đảm đã có một đánh giá rủi ro thích hợp.
Sang vòng hai, toàn bộ việc ấy được cập nhật, chứ không phải làm một lần rồi xong. Chi phí giấy tờ cũng được văn bản quy định tới mức chi tiết.
Mọi giấy tờ phải là bản gốc hoặc bản sao có chứng thực, do một luật sư có giấy phép, một công chứng viên, một uỷ viên tuyên thệ, hoặc một viên chức lãnh sự hay ngoại giao Malta chứng thực; người chứng thực phải ghi rõ họ tên đầy đủ, tư cách khi hành động, địa chỉ nhà riêng hoặc địa chỉ trụ sở, số điện thoại và địa chỉ thư điện tử.
Một bản sao được chứng thực bởi luật sư, công chứng viên hay uỷ viên tuyên thệ còn phải được hợp pháp hoá:
Bằng một apostille theo Công ước La Hay ngày 05/10/1961 nếu tài phán ấy là thành viên Công ước; còn nếu không phải thành viên thì phải có xác nhận của cơ quan chính phủ thích hợp và thêm xác nhận của một cơ quan đại diện lãnh sự hoặc ngoại giao của Malta.
Mọi giấy tờ không phải tiếng Malta hoặc tiếng Anh phải kèm bản dịch có chứng thực do một dịch giả được công nhận thực hiện. Và một khoản chi mà Quy định đòi nhưng không định giá, chi tiết thuộc ô điều kiện cư trú: Chỗ ở tại Malta phải có giấy tờ chứng minh quyền, nên đó là việc thu xếp bằng tiền chứ không phải bằng thủ tục.