31/10/2026 · Việt Nam EN

Citizenship · Capital · Global Mobility

The Legation Times

Digital Nomad Visa (EO No. 86)

Thị thực du mục số Philippines

Chưa mở từ 24/04/2025 · đối chiếu 16/10/2026 · immigration.gov.ph

Philippines lập thị thực du mục số theo Sắc lệnh hành pháp số 86 năm 2025, cho người làm việc từ xa có thu nhập từ nước ngoài lưu trú tối đa một năm, gia hạn được một kỳ, nhưng sắc lệnh không đặt mức thu nhập bằng số. Tới ngày 16/10/2026 chưa tìm được bản công bố nào của hướng dẫn thi hành mà sắc lệnh giao Bộ Ngoại giao ban hành, và danh mục thị thực của Cục Xuất nhập cảnh cùng cổng thị thực điện tử của Bộ Ngoại giao đều chưa có hạng du mục số. Người nộp phải là công dân nước có cấp thị thực du mục số cho người Philippines, và theo Prosperous Intelligence, hộ chiếu Philippines, cấp cho công dân chứ không cho người giữ thị thực này, tới được 59 điểm đến không cần xin thị thực lãnh sự trước.

Tổng quan chương trình

  • Tên chính thức chương trình: Digital Nomad Visa (EO No. 86)
  • Website: immigration.gov.ph
  • Cơ quan quản lý: Department of Foreign Affairs (DFA)

Ngưỡng vốn tối thiểu

Sắc lệnh không đặt một con số nào, và chỗ nó đặt điều kiện thay cho con số mới là điều người đọc cần biết.

Mục 2 liệt kê tám điều kiện mà người nước ngoài xin thị thực du mục số phải đáp ứng, và điều kiện về tiền chỉ ghi rằng người nộp phải chứng minh thu nhập đủ và thu nhập ấy phải phát sinh bên ngoài Philippines — không mức sàn, không đơn vị tiền, không kỳ tính.

Bảy điều kiện còn lại cũng không ai mang con số: Đủ mười tám tuổi. Chứng minh làm việc từ xa bằng công nghệ số; chứng minh không có tiền án. Có bảo hiểm y tế còn hiệu lực suốt thời hạn thị thực; không được làm việc tại Philippines.

Không gây nguy cơ cho an ninh đối nội hoặc đối ngoại; và một điều kiện về quốc tịch rất riêng — người nộp phải là công dân của một nước vừa cấp thị thực du mục số cho người Philippines vừa có cơ quan đại diện ngoại giao của Philippines đặt tại đó.

Ai mang quốc tịch nước có cấp thị thực cho người Philippines nhưng nước ấy không có cơ quan đại diện của Philippines thì nộp tại nước gần nhất có cơ quan ấy.

Con số sẽ do một văn bản khác đặt, và tại ngày đối chiếu văn bản ấy chưa có: Sắc lệnh giao cho một nhóm cơ quan ban hành hướng dẫn thi hành trong một thời hạn ghi ở ô thời gian của bảng này, và chính hướng dẫn ấy mới là chỗ một mức tiền có thể xuất hiện.

Bảng này chưa tìm được bản công bố nào của hướng dẫn ấy — phép tra và ba cửa đã mở ghi ở ô người phụ thuộc. Nghĩa là câu trả lời của ô này hôm nay không phải rằng chưa tra ra con số, mà rằng chưa có văn bản nào ấn định một con số.

Kết quả pháp lý

Lưu trú tối đa một năm, được gia hạn một kỳ tương đương; dành cho người làm việc từ xa mà khách hàng hoặc người sử dụng lao động ở ngoài Philippines.

Người nộp phải mang quốc tịch của một nước có cấp thị thực du mục số cho công dân Philippines. Người đọc Việt Nam vì vậy cần kiểm điều kiện có đi có lại này trước mọi bước khác, vì nó quyết định việc có nộp được hay không.

Theo sắc lệnh, hồ sơ nộp tại cơ quan đại diện của Philippines ở nước mình; nước nào không có cơ quan đại diện thì nộp ở nước gần nhất có cơ quan ấy. Bộ Ngoại giao lập một cơ sở dữ liệu về mọi người giữ thị thực để theo dõi, và phải tuân thủ Luật Bảo vệ Dữ liệu năm 2012.

Tới ngày 16/10/2026, các cổng chính thức mở được chưa công bố kênh nộp hồ sơ cho diện này. Trang chính sách thị thực trên cổng thị thực điện tử của Bộ Ngoại giao chỉ liệt kê thị thực khách tạm thời 9(a) cùng tám hạng con, và danh mục mười tám hạng thị thực của Cục Xuất nhập cảnh không có hạng du mục số. Hướng dẫn thi hành mà Mục 7 của sắc lệnh đòi ban hành trong ba mươi ngày cũng chưa tìm được bản công bố nào.

Thời gian xử lý công bố

Sắc lệnh đặt bốn mốc thời gian, và ba trong số đó nói về bộ máy chứ không nói về người nộp. Mốc của người nộp nằm ở Mục 3: Người được cấp thị thực du mục số hợp lệ được nhập cảnh và lưu trú tại Philippines tối đa một năm, được gia hạn với cùng thời hạn ấy, và có thể được cấp quyền nhập cảnh nhiều lần trong thời gian thị thực còn hiệu lực.

Ba mốc còn lại ràng buộc chính quyền, và chúng cho biết diện này đáng lẽ phải chạy từ bao giờ.

Mục 7 buộc Bộ Ngoại giao, cùng Bộ Tư pháp, Bộ Du lịch, Cục Xuất nhập cảnh và Tổng cục Thuế phối hợp, ban hành hướng dẫn thi hành trong ba mươi ngày kể từ ngày sắc lệnh có hiệu lực.

Mục 5 buộc cùng nhóm cơ quan ấy tiến hành thử nghiệm chương trình trong sáu mươi ngày kể từ ngày sắc lệnh có hiệu lực. Mục 6 buộc Bộ Ngoại giao báo cáo lên Tổng thống, thông qua Tổng Thư ký Nội các, mỗi nửa năm về việc thi hành chương trình và việc cấp thị thực.

Điểm khởi tính của cả ba mốc nằm ở Mục 10: Sắc lệnh có hiệu lực ngay khi được công bố trên Công báo hoặc trên một tờ báo phát hành rộng rãi. Văn bản ký ngày 24/04/2025 tại Manila, do Tổng thống Ferdinand R. Marcos Jr. Ban hành và Tổng Thư ký Nội các Lucas P. Bersamin tiếp ký.

Yêu cầu cư trú thực tế

Điều kiện cư trú của diện này gồm một nghĩa vụ kéo dài và một điều cấm tuyệt đối, và cả hai đều nằm trong chính sắc lệnh chứ không chờ hướng dẫn.

Nghĩa vụ kéo dài đặt ở đoạn ngay sau danh mục tám điều kiện: Người đã được cấp thị thực hợp lệ phải duy trì việc đáp ứng các điều kiện ấy trong suốt thời gian thị thực còn hiệu lực.

Nghĩa là bảo hiểm y tế phải còn hiệu lực suốt kỳ hạn, thu nhập phải tiếp tục phát sinh bên ngoài Philippines, và quan hệ làm việc từ xa phải tiếp tục tồn tại.

Điều cấm là điều kiện thứ tám: Không được làm việc tại Philippines. Mục 4 biến điều cấm ấy thành chế tài có tên: Bộ Ngoại giao xác định các căn cứ thu hồi thị thực, và các căn cứ ấy bao gồm việc người giữ thị thực tham gia làm việc tại địa phương, việc gian lận hoặc khai man trong hồ sơ, và việc vi phạm pháp luật xuất nhập cảnh.

Về giám sát, Mục 1 buộc Bộ Ngoại giao lập một cơ sở dữ liệu về toàn bộ người giữ thị thực để theo dõi, đồng thời phải tuân thủ nghiêm các yêu cầu bảo vệ dữ liệu cá nhân theo Luật số 10173 năm 2012.

Cục Xuất nhập cảnh được giao phối hợp chặt với Bộ Ngoại giao trong việc thẩm tra an ninh đối với người nộp. Một điều sắc lệnh không đặt: Không có số ngày có mặt tối thiểu, và không có điều khoản nào về nơi cư trú hay việc đăng ký chỗ ở.

Người phụ thuộc được kèm

Sắc lệnh không có một điều khoản nào về thân nhân, và cách nó được soạn cho thấy đây là sự im lặng có cấu trúc chứ không phải sơ suất: Cả tám điều kiện của Mục 2 đều viết ở ngôi người nộp và đều nói về phẩm chất của chính người ấy.

Tuổi, bằng chứng làm việc từ xa, thu nhập, tiền án, bảo hiểm y tế, quốc tịch, rủi ro an ninh, và việc không được làm việc tại Philippines.

Không có khái niệm người phụ thuộc, không có tư cách phái sinh cho vợ chồng hay con, và không có khoản phụ thu nào cho người đi kèm.

Điều kiện duy nhất trong danh mục có hình dáng giống một ràng buộc gia đình lại không phải ràng buộc gia đình mà là ràng buộc quốc tịch: Người nộp phải mang quốc tịch của một nước có đặt cơ quan đại diện ngoại giao của Philippines và đồng thời cấp thị thực du mục số cho người Philippines.

Nghĩa là một cặp vợ chồng mang hai quốc tịch khác nhau có thể rơi vào hai kết quả khác nhau, và sắc lệnh không dự liệu việc người này đi theo người kia.

Chỗ có thể mở ra diện thân nhân là Mục 7: Hướng dẫn thi hành mà sắc lệnh giao cho Bộ Ngoại giao cùng bốn cơ quan khác soạn — danh sách cơ quan và thời hạn ghi ở ô thời gian của bảng này — phải quy định trình tự cấp, gia hạn và thu hồi.

Tại ngày đối chiếu, bảng này chưa tìm được hướng dẫn ấy trên trang của Cục Xuất nhập cảnh, trên cổng lãnh sự của Bộ Ngoại giao, hay trên cổng thị thực điện tử.

Số nước miễn thị thực

Tư cách mà chương trình này cấp, dù là thị thực hay thẻ cư trú, không thay hộ chiếu của người giữ. Người giữ vẫn đi lại bằng hộ chiếu của nước mình, nên con số dưới đây là của hộ chiếu Philippines và chỉ trở thành của người giữ khi họ được cấp hộ chiếu Philippines.

Theo Passport Index của Prosperous Intelligence, dữ liệu ngày 30/09/2026, hộ chiếu Philippines tới được 59 điểm đến mà không cần xin thị thực lãnh sự trước. Con số ấy gộp ba hình thức nhập cảnh và không tính thị thực điện tử phải xin trước:

Hình thức nhập cảnhSố điểm đến
Miễn thị thực39
Thị thực cấp tại cửa khẩu16
Giấy phép du lịch điện tử (eTA)4
Cộng, là con số của Passport Index59
Thị thực điện tử phải xin trước, không cộng59

Vì vậy đây là thước đo mức đi lại thuận tiện, không phải số nước miễn thị thực theo nghĩa hẹp.

Để đối chiếu, cùng nguồn và cùng cách đếm, hộ chiếu Việt Nam tới được 44 điểm đến. Hai danh sách điểm đến không lồng vào nhau, nên hiệu số chỉ là chỉ dấu chứ không phải danh sách những nơi được mở thêm.

Prosperous Intelligence ghi ngày cho dữ liệu và khuyến nghị xác minh với cơ quan chính thức của nước đến trước khi đi.

Nghĩa vụ thuế phát sinh

Sắc lệnh không đặt một quy tắc thuế nào, nhưng nó kéo cơ quan thuế vào ngay từ văn bản gốc, và hai điều kiện của nó vẽ sẵn hình dáng của vấn đề thuế mà hướng dẫn thi hành sẽ phải xử lý.

Mục 5 giao Bộ Ngoại giao phối hợp với Bộ Tư pháp, Bộ Du lịch, Cục Xuất nhập cảnh và Tổng cục Thuế nghiên cứu và khi cần thì áp dụng các biện pháp để thi hành chương trình một cách hiệu quả, với mục tiêu thu hút người nước ngoài đủ điều kiện.

Mục 7 lại nêu đúng nhóm cơ quan ấy, có Tổng cục Thuế, khi giao việc ban hành hướng dẫn thi hành trong ba mươi ngày.

Hai điều kiện đặt sẵn khuôn khổ: Thu nhập phải phát sinh bên ngoài Philippines, và người giữ thị thực không được làm việc tại Philippines — việc tham gia làm việc tại địa phương còn là một căn cứ thu hồi thị thực được nêu đích danh ở Mục 4.

Nghĩa là sắc lệnh dựng một diện mà thu nhập theo thiết kế nằm ngoài lãnh thổ, rồi để cơ quan thuế cùng ngồi vào bàn soạn hướng dẫn.

Phải nói rõ ranh giới: Văn bản này không tuyên bố miễn thuế, không đặt ngưỡng ngày cư trú thuế, và không dẫn chiếu hiệp định tránh đánh thuế hai lần nào. Ai cần biết nghĩa vụ thuế thật phải đợi hướng dẫn của Mục 7, mà tại ngày đối chiếu bảng này chưa tìm được bản công bố nào.

Chi phí bắt buộc ngoài khoản đầu tư

Không một khoản chi phí nào của diện này được cơ quan công bố, và những gì đọc được trên trang của cơ quan cho biết vì sao sự vắng mặt ấy có nghĩa chứ không phải do tra thiếu.

Cục Di trú Philippines là cơ quan sẽ thu phí nếu diện này vận hành, và danh mục thị thực đầy đủ của Cục — mười tám hạng chia làm ba nhóm là thị thực định cư, thị thực không định cư và thị thực đặc biệt — không có hạng du mục số.

Cả trang danh mục lẫn trang chủ của Cục đều không nhắc tới du mục số, và trang danh mục cũng không nhắc tới số hiệu sắc lệnh.

Trang Thị thực Cư trú Tạm thời của chính Cục in giá cụ thể: Tám nghìn sáu trăm hai mươi peso cho đương đơn chính và cho từng người phụ thuộc, cộng năm mươi đô la Mỹ cho thẻ đăng ký người nước ngoài thời hạn một năm. Trang in kèm cả quy trình thu tiền theo phiếu lệnh nộp tiền, thu ngân và biên lai chính thức.

Cục vẫn công bố phí cho những hạng nó đang vận hành; nó chỉ không có hạng này để công bố. Một chi tiết của chính trang ấy phải ghi kèm vì nó nói lên độ tươi của số liệu nhà nước ở đây: Ngay dưới bảng giá có dòng ghi mức phí được cập nhật ngày 11/04/2014 và có thể thay đổi mà không báo trước.

Hai nguồn khác có thể mang một văn bản ấn định phí, là cổng của Bộ Ngoại giao và cổng Công báo Chính phủ, chưa đối chiếu được.

Bản tin hàng tuần

Bản tin về đầu tư quốc tịch, dòng vốn và dịch chuyển toàn cầu sẽ được gửi hàng tuần. Quý độc giả vui lòng để lại địa chỉ thư điện tử để nhận bản tin mới nhất.