Hy Lạp cấp thị thực quốc gia tới mười hai tháng cho người làm việc từ xa có thu nhập ròng tối thiểu 3.500 euro mỗi tháng từ nguồn ngoài Hy Lạp, mức này tăng thêm 20% cho vợ hoặc chồng và 15% cho mỗi con đi cùng. Căn cứ là Điều 68 Luật 5038/2023; sau thị thực có thể xin giấy phép cư trú hai năm, người giữ không được làm việc cho công ty Hy Lạp, và theo Prosperous Intelligence, hộ chiếu Hy Lạp, cấp cho công dân chứ không cho người giữ thị thực này, tới được 200 điểm đến không cần xin thị thực lãnh sự trước.
Tổng quan chương trình
- Tên chính thức chương trình: Digital Nomad Visa (Law 5038/2023, Article 68)
- Website: migration.gov.gr
- Cơ quan quản lý: Ministry of Migration and Asylum
Ngưỡng vốn tối thiểu
Mức tối thiểu là 3.500 EUR mỗi tháng, và con số ấy tăng thêm 20 phần trăm cho vợ hoặc chồng và 15 phần trăm cho mỗi người con đi cùng.
Quyết định Liên bộ số 225679 về mức và cách chứng minh nguồn lực đủ nói rõ đây là thu nhập ròng hoặc vốn ròng, chứ không phải thu nhập gộp.
Cách chứng minh gồm lương hưu từ nước ngoài, tài khoản ngân hàng, hoặc chứng cứ cho thấy đương sự tự có phương tiện tài chính đủ dùng mà nguồn gốc hợp pháp chứng minh được theo pháp luật hiện hành.
Cách đánh giá mới là chỗ ít nơi nhắc: Nếu chứng minh được tính định kỳ của thu nhập, như lương hưu, tiền lương hoặc cổ tức từ nước ngoài, thì đánh giá theo tháng; còn thu nhập từ nguồn khác, ví dụ tiền gửi ngân hàng, thì đánh giá theo năm.
Riêng với người xin thị thực quốc gia theo Điều 68 khoản 1 hoặc xin giấy phép cư trú theo Điều 163 khoản 8 Luật 5038/2023 với tư cách du mục số, việc đánh giá nguồn lực đủ được thực hiện trên thu nhập của người nộp, theo tháng hoặc theo năm, và áp thêm các tiêu chí riêng ở các mục b, c và d khoản 2 Điều 68 của cùng luật.
Một điểm cần nói rõ về tên gọi: Diện này quen được gọi theo Luật 4825/2021, nhưng văn bản nền đang áp dụng là luật 5038/2023, tức Bộ luật Di trú hiện hành, và loại giấy phép cư trú tương ứng mang mã Ζ.1 "Ψηφιακοί νομάδες"
Kết quả pháp lý
Diện này cấp hai giấy tờ khác nhau ở hai chặng, mang hai mã khác nhau, và không phân biệt được hai mã ấy là chỗ hay nhầm nhất. Chặng một: Cơ quan lãnh sự Hy Lạp có thẩm quyền cấp một thị thực quốc gia cho thời hạn tới mười hai tháng, và chính tiêu đề Điều 68 Bộ luật Di trú gọi tư cách lưu trú của người du mục số là mã Ζ.1.
Chặng hai: Khoản 4 của cùng điều ấy trao cho Tổng Thư ký Cơ quan Hành chính Phi tập trung quyền cấp giấy phép cư trú hai năm cho đương sự và người thân — nhưng giấy phép ấy không phải một giấy phép du mục số.
Nó là giấy phép dành cho công dân nước thứ ba có đủ phương tiện sinh sống theo Điều 163 khoản 8, mã Ι.8, nghĩa là người ở lại quá năm đầu chuyển sang một hạng chung chứ không ở tiếp trong hạng riêng của mình.
Điều kiện để chuyển là các điều kiện của khoản 2 vẫn còn đúng, và đơn phải nộp trước khi thị thực quốc gia hết hiệu lực. Trang workfromgreece.gr, mang dấu bản quyền của Marketing Greece, một tổ chức phi lợi nhuận của khu vực tư nhân ngành du lịch chứ không phải cơ quan nhà nước, gọi giấy tờ chặng hai là Giấy phép Cư trú Du mục số — cách gọi dễ hiểu nhưng không khớp tên hạng trong luật, nên ai tra theo tên ấy trong Bộ luật sẽ không tìm ra.
Cùng trang ấy nêu một giới hạn mà luật viết thành lệnh cấm: Suốt thời gian này người giữ không có quyền làm việc cho một công ty Hy Lạp, dù theo hợp đồng lao động hay theo lối hành nghề tự do.
Thời gian xử lý công bố
Luật đặt một thời hạn cứng cho cơ quan ở chặng một và không đặt thời hạn nào cho cơ quan ở chặng hai, và khoảng trống ấy là điều đáng đọc nhất.
Chặng một, thị thực: Điều 68 khoản 2 Bộ luật Di trú buộc cơ quan lãnh sự Hy Lạp có thẩm quyền phải trả lời trong mười ngày kể từ yêu cầu của đương sự, và phải hoàn tất thủ tục cấp thị thực theo lối “một điểm dừng của người quan tâm” — nghĩa vụ đặt lên cơ quan chứ không phải một mốc tham khảo.
Hồ sơ nộp trực tiếp, qua thư điện tử hoặc thư bảo đảm, cả ba đường đều được. Thị thực quốc gia cấp cho thời hạn tối đa mười hai tháng.
Chặng hai, giấy phép cư trú: Điều 68 khoản 4 cho phép Tổng Thư ký Cơ quan Hành chính Phi tập trung cấp cho đương sự và người thân một giấy phép cư trú loại “I.8” dành cho người nước ngoài có đủ nguồn lực sinh sống, thời hạn hai năm.
Nhưng ở chặng này luật không nêu một thời hạn xử lý nào, và động từ cũng đổi: Khoản 4 viết là có thể được cấp chứ không phải được cấp, tức đây là quyền tuỳ nghi chứ không phải nghĩa vụ.
Thứ duy nhất luật ràng ở chặng hai là thời hạn của đương sự: Đơn phải nộp trước khi thị thực quốc gia hết hiệu lực, tại Vụ Người nước ngoài và Di trú thuộc Cơ quan Hành chính Phi tập trung nơi đương sự cư trú. Nói gọn: Cơ quan bị bấm giờ khi cấp thị thực, còn người nộp bị bấm giờ khi xin giấy phép.
Yêu cầu cư trú thực tế
Điều kiện cư trú cốt lõi không nằm ở số ngày mà nằm ngay trong chính điều khoản về nguồn lực tài chính: Khoản tiền phải đủ trang trải chi phí sinh hoạt của đương sự mà không cung cấp lao động làm công ăn lương và không thực hiện hoạt động kinh tế độc lập tại Hy Lạp.
Nghĩa là lằn ranh không phải giữa có việc và không việc, mà giữa nguồn thu từ ngoài Hy Lạp và nguồn thu từ trong Hy Lạp — cả quan hệ lao động lẫn hành nghề tự do trong nước đều bị loại, và điều này được viết vào cùng một câu với ngưỡng tiền chứ không để ở một mục riêng dễ bỏ sót.
Về thủ tục, danh mục giấy phép cư trú xếp du mục số vào nhóm Ζ.1, và thông tư của Tổng Thư ký Chính sách Di trú nêu rõ nhóm Ζ.1 không thuộc diện phải qua quy trình xin chấp thuận trước áp cho phần lớn các nhóm khác.
Quy trình ấy đặt thời hạn chín mươi ngày cho cơ quan công an cho ý kiến về trật tự, an ninh công cộng và cho cơ quan lãnh sự xác minh quan hệ gia đình, có thể gia hạn thêm ba mươi ngày trong trường hợp ngoại lệ.
Cùng thông tư ấy xác nhận mức nguồn lực đủ cho du mục số là 3.500 EUR mỗi tháng, đặt cạnh 650 EUR cho sinh viên và thực tập sinh, 900 EUR cho nhà nghiên cứu và 500 EUR cho vận động viên, huấn luyện viên trong giai đoạn tập huấn
Người phụ thuộc được kèm
Người thân được đi cùng, và Điều 68 khoản 3 Bộ luật Di trú định nghĩa phạm vi ấy chặt hơn nhiều so với công thức cộng phần trăm thường được trích. Được tính là người thân gồm ba nhóm.
Nhóm một: Vợ hoặc chồng, hoặc người bạn đời đã ký hiệp ước chung sống với đương sự.
Nhóm hai: Con chung chưa kết hôn của hai vợ chồng hoặc hai bạn đời, dưới mười tám tuổi, kể cả con đã được nhận nuôi hợp pháp theo một bản án nước ngoài đương nhiên có hiệu lực thi hành, đã được tuyên cho thi hành, hoặc đã được công nhận hiệu lực tại Hy Lạp.
Nhóm ba: Các con chưa kết hôn khác dưới mười tám tuổi của người bảo lãnh hoặc của người vợ chồng hay bạn đời kia, với điều kiện quyền chăm sóc đã được giao hợp pháp cho đúng người ấy.
Không có nhóm nào cho cha mẹ, và không có ngoại lệ tuổi cho con đang đi học. Hai hệ quả nặng đi kèm. Thứ nhất, thị thực của người thân là thị thực cá nhân nhưng hết hạn cùng lúc với thị thực của người bảo lãnh, nên nó không đứng độc lập được và cả nhà cùng chung một mốc.
Thứ hai, và đây là điều khoản quyết định cách một gia đình sống được hay không: Trong thời gian ở Hy Lạp, vợ hoặc chồng, bạn đời cùng các thành viên gia đình không được cung cấp lao động làm công ăn lương và không được thực hiện hoạt động kinh tế dưới bất kỳ hình thức nào trong nước.
Cả nhà sống bằng một nguồn thu duy nhất đặt ngoài Hy Lạp.
Về tiền, mỗi người thân làm mức nguồn lực của người bảo lãnh tăng thêm 20 phần trăm cho vợ chồng hoặc bạn đời và 15 phần trăm cho mỗi con.
Số nước miễn thị thực
Tư cách mà chương trình này cấp, dù là thị thực hay thẻ cư trú, không thay hộ chiếu của người giữ. Người giữ vẫn đi lại bằng hộ chiếu của nước mình, nên con số dưới đây là của hộ chiếu Hy Lạp và chỉ trở thành của người giữ khi họ được cấp hộ chiếu Hy Lạp.
Theo Passport Index của Prosperous Intelligence, dữ liệu ngày 30/09/2026, hộ chiếu Hy Lạp tới được 200 điểm đến mà không cần xin thị thực lãnh sự trước. Con số ấy gộp ba hình thức nhập cảnh và không tính thị thực điện tử phải xin trước:
| Hình thức nhập cảnh | Số điểm đến |
|---|---|
| Miễn thị thực | 166 |
| Thị thực cấp tại cửa khẩu | 24 |
| Giấy phép du lịch điện tử (eTA) | 10 |
| Cộng, là con số của Passport Index | 200 |
| Thị thực điện tử phải xin trước, không cộng | 33 |
Vì vậy đây là thước đo mức đi lại thuận tiện, không phải số nước miễn thị thực theo nghĩa hẹp.
Để đối chiếu, cùng nguồn và cùng cách đếm, hộ chiếu Việt Nam tới được 44 điểm đến. Hai danh sách điểm đến không lồng vào nhau, nên hiệu số chỉ là chỉ dấu chứ không phải danh sách những nơi được mở thêm.
Prosperous Intelligence ghi ngày cho dữ liệu và khuyến nghị xác minh với cơ quan chính thức của nước đến trước khi đi.
Nghĩa vụ thuế phát sinh
Điều luật lập ra diện này không có điều khoản thuế nào — không ưu đãi, không miễn trừ, không ngưỡng ngày cư trú. Chương trình không có chế độ thuế riêng. Nhưng cấu trúc của nó nói nhiều về thuế hơn bất kỳ điều khoản nào, theo hai cách.
Cách thứ nhất là một lệnh cấm: Khoản 2 điểm a buộc đương đơn nộp bản khai có tuyên thệ gồm hai nội dung, là ý định cư trú để làm việc từ xa, và cam kết sẽ không cung cấp lao động, dịch vụ hay công việc dưới bất kỳ hình thức nào cho người sử dụng lao động đặt trụ sở tại Hy Lạp.
Các điểm b, c và d siết tiếp cùng một hướng: Hợp đồng lao động, hợp đồng dịch vụ hoặc chứng cứ quan hệ lao động phải với chủ thể đặt ngoài lãnh thổ Hy Lạp, và người tự doanh phải chứng minh doanh nghiệp của mình nằm ngoài lãnh thổ Hy Lạp.
Cách thứ hai nằm trong chính công thức tính tiền, và nó là câu quyết định của bản ghi này:
Khoản 2 điểm e ấn định nguồn lực đủ sống là 3.500 euro mỗi tháng, cộng thêm 20% cho vợ hoặc chồng hay bạn đời và 15% cho mỗi con — và nếu nguồn lực đến từ làm công thì mức tối thiểu ấy tính trên thu nhập ròng sau khi đã nộp các khoản thuế cần thiết tại nước nơi công việc được cung cấp.
Tức chính đạo luật giả định thuế được nộp ở nơi khác, không ở Hy Lạp.
Các thông số còn lại: Diện cấp cho công dân nước thứ ba tự doanh, hành nghề tự do hoặc làm công ăn lương có thể làm việc từ xa bằng công nghệ thông tin và truyền thông cho người sử dụng lao động hoặc khách hàng ngoài Hy Lạp.
Cơ quan lãnh sự cấp thị thực quốc gia thời hạn tối đa mười hai tháng và phải trả lời trong mười ngày theo cơ chế một cửa; lệ phí thị thực quốc gia 75 euro.
Gia đình đi cùng được cấp thị thực cá nhân hết hạn cùng lúc, nhưng vợ chồng và các thành viên gia đình không được làm công ăn lương hay tiến hành bất kỳ hoạt động kinh tế nào tại Hy Lạp.
Phải ghi giới hạn của ô này: Tầng hai không dựng được vì văn bản của cơ quan thuế Hy Lạp chưa đối chiếu được tại nguồn chính thức.
Nên chế độ ưu đãi tại Điều 5C Bộ luật Thuế Thu nhập, thứ mà thị trường hay gắn với diện này, không được xác minh tại gốc và ô này không dẫn nó; đồng thời Điều 68 cũng không dẫn nó — không một điều nào trong Bộ luật Di trú trỏ sang chế độ ấy, nên hai thứ là hai lộ trình riêng cho tới khi chứng minh được điều ngược lại.
Đọc ô này đúng phạm vi: Điều luật nói về điều kiện cấp thị thực và điều kiện tài chính, không nói về cách Hy Lạp đánh thuế người đã vào; nó không nói người giữ giấy phép được miễn thuế Hy Lạp và cũng không nói họ không thành cư trú thuế
Chi phí bắt buộc ngoài khoản đầu tư
Diện này không có tên trong biểu phí của Bộ luật Di trú, và đó là một sự vắng mặt có ý nghĩa chứ không phải một dòng bị sót.
Điều 171, tiêu đề lệ phí và tiền phạt, liệt kê mức lệ phí điện tử phải nộp kèm đơn xin cấp và gia hạn giấy phép cư trú, và nó gọi tên từng hạng một: Hạng Ε, hạng Ο, hạng Β, hạng Η, hạng Α, hạng Μ, hạng Ι, hạng Χ và hạng Υ.
Hạng Ζ — hạng chứa chính giấy phép du mục số mã Ζ.1 — không xuất hiện: Điều 171 không nhắc tới ký hiệu hạng Ζ hay mã Ζ.1, dù mã Ζ.1 có được dùng ở các điều khác của bộ luật.
Lý do nằm ở bản chất giấy tờ: Điều 68 quy định người du mục số được cơ quan lãnh sự có thẩm quyền cấp một thị thực nhập cảnh quốc gia cho thời hạn tới mười hai tháng, chứ không phải được cơ quan trong nước cấp một giấy phép cư trú.
Nhưng khoản phí của chặng ấy không nằm ở nơi khác: Chính Bộ luật này ấn định nó, chỉ là ở một điều khác — Điều 68 khoản 2 điểm στ liệt kê lệ phí thị thực quốc gia bảy mươi lăm euro ngay trong danh mục thứ phải nộp kèm đơn, chứ không đặt nó vào biểu phí của Điều 171.
Và cần đọc tiếp một điểm nữa để không hiểu sót: Mức Ι.8 nêu dưới đây không phải một con số đối chiếu cho vui, vì giấy phép cư trú hai năm mà Điều 68 khoản 4 cho chuyển sang chính là giấy phép Ι.8 — nên đó là khoản phải trả ở chặng hai của diện này.
Để thấy quy mô của biểu phí ấy và vì sao việc đứng ngoài nó là đáng kể, có thể đối chiếu vài mức, tính bằng euro:
| Giấy phép | Lệ phí (euro) |
|---|---|
| Lao động, Ε.1 tới Ε.4 | 150 |
| Lao động thời vụ, Ε.6 | 75 |
| Nhóm đầu tư hạng Β, Β.1 tới Β.5 | Hai nghìn |
| Giấy phép mười năm, mã Μ.2 | 900 |
| Mã Ι.8 | 1.000 |
| Mã Ι.8, người đang hưởng hoặc đủ điều kiện hưởng lương hưu từ một quỹ bảo hiểm chính của Hy Lạp | 150 |
| Cấp lại giấy phép thuộc mọi hạng | 100 |
Khoản 2 của cùng điều liệt kê tám nhóm được miễn lệ phí, trong đó có người chưa thành niên mang quốc tịch nước thứ ba và người đã được hưởng quy chế cư trú dài hạn khi xin gia hạn.
Hai khoản cuối nói về cách thu và cách tiêu. Lệ phí thu theo thủ tục lệ phí điện tử, và 75 phần trăm nguồn thu được ghi vào ngân sách của Tổng Thư ký Chính sách Di trú thuộc Bộ Di trú và Tị nạn.
Khoản ấy dùng cho tiền thuê trụ sở các văn phòng một cửa, mua sắm và bảo trì trang thiết bị, chi phí vận hành, và tài trợ các hoạt động hoà nhập xã hội do chính quyền địa phương thực hiện.
Lựa chọn đầu tư
| Lựa chọn | Ngưỡng | Loại hình | Trạng thái |
|---|---|---|---|
| Thu nhập sau thuế hằng tháng từ người sử dụng lao động ngoài Hy Lạp | 3.500 EUR/tháng | Khác | Đang mở |