Chương trình quốc tịch kinh tế Comoros đã đóng theo tuyên bố của chính phủ Tổng thống Azali Assoumani rằng việc bán quốc tịch dừng từ khi ông nắm quyền tháng 5/2016, dù chưa thấy văn bản bãi bỏ và hiệu lực của đạo luật năm 2008 đang bị tranh chấp. Khi còn vận hành, chương trình cấp quốc tịch không kèm quyền bầu cử cho nhà đầu tư nước ngoài, mức tối thiểu do luật tài chính từng năm ấn định, không đòi cư trú mà buộc đương đơn cư trú thường xuyên ở nước khác. Theo Prosperous Intelligence, hộ chiếu Comoros tới được 44 điểm đến không cần xin thị thực lãnh sự trước.
Tổng quan chương trình
- Tên chính thức chương trình: Comoros Economic Citizenship Program (Luat 2008)
- Website: beit-salam.km
Ngưỡng vốn tối thiểu
Luật không ấn định một con số nào, và đó là thiết kế của luật chứ không phải chỗ còn thiếu.
Điều 1 quy định rằng tư cách đối tác kinh tế thuộc về người nước ngoài hội đủ điều kiện và nộp đơn xin đầu tư một khoản có mức tối thiểu do luật tài chính của năm ngân sách ấn định — cụ thể là năm ngân sách mà đương đơn nộp đơn — và trong một thời hạn được xác định trên cơ sở chương trình đầu tư kinh tế của Liên bang Comoros.
Nói cách khác, cả số tiền lẫn thời gian giữ vốn đều là biến số do văn bản khác ấn định theo từng năm, nên không tồn tại một ngưỡng duy nhất đúng cho mọi thời điểm của chương trình; muốn biết mức của một năm cụ thể thì phải đọc luật tài chính của chính năm ấy.
Điều 1 cũng đặt một điều kiện về tư cách người nộp: Phải là người thành niên.
Về cách chứng minh, Điều 2 liệt kê giấy tờ phải nộp kèm đơn, và trong đó có bằng chứng đã ký gửi khoản tiền cần cho khoản đầu tư dự kiến, do một ngân hàng hoặc một định chế tài chính được cấp phép tại Liên bang Comoros cấp — tức tiền phải nằm trong hệ thống tài chính Comoros trước khi hồ sơ được xét, chứ không phải một cam kết trên giấy.
Cùng danh mục ấy còn đòi giấy khai sinh, giấy chứng nhận y tế và lý lịch tư pháp đều cấp trong vòng ba tháng, một giấy chứng nhận kết hôn, biên lai nộp các khoản thuế và phí do kho bạc cấp, và hồ sơ dự án đầu tư
Kết quả pháp lý
Kết quả là quốc tịch kinh tế, nhưng luật cắt sẵn ba quyền của nó, và đây là điều người đọc cần biết trước hết. Điều 11 quy định người đã nhận tư cách công dân kinh tế không được phục vụ trong quân đội quốc gia, không được phục vụ trong các cơ quan tài phán của Comoros, và không được là cử tri.
Không có quyền bầu cử tức là quốc tịch này không mang theo quyền chính trị, và ba giới hạn ấy nằm trong chính đạo luật chứ không phải trong một văn bản hướng dẫn nào.
Bù lại, cùng Điều 11 đặt một mức sàn về đối xử: Công dân kinh tế được thụ hưởng ưu đãi ít nhất ngang với bất kỳ nhà đầu tư nước ngoài nào theo bộ luật đầu tư.
Về đường ra quyết định, Điều 4 quy định quốc tịch kinh tế được cấp bằng nghị định của Tổng thống ban hành trong Hội đồng Bộ trưởng, trên ý kiến phù hợp của Uỷ ban Quốc gia Độc lập và sau khi Bộ trưởng Tư pháp trình hồ sơ;
Điều 5 siết thêm một nấc hiếm thấy là Uỷ ban chỉ ra ý kiến khi toàn thể thành viên nhất trí.
Uỷ ban gồm bảy người: Hai đại diện Bộ Tư pháp, hai đại diện Bộ Đầu tư, Tổng giám đốc Cơ quan Đầu tư Quốc gia và hai đại diện Quốc hội Liên bang, đều do Tổng thống bổ nhiệm.
Điều 8 dựng sáu căn cứ loại trừ, gồm cả căn cứ chưa hoà nhập đầy đủ vào cơ cấu xã hội và nhân khẩu của nước gốc. Và Điều 9 đặt một điều kiện hình thức có sức huỷ: Văn bản cấp quốc tịch kinh tế bị tuyên vô hiệu nếu không mang dòng ghi rằng nó dựa trên ý kiến phù hợp của Uỷ ban
Thời gian xử lý công bố
Đạo luật không ấn định thời hạn xử lý hồ sơ, và nói rõ điều đó có ích hơn là để trống: Không có điều khoản nào buộc Uỷ ban hay Tổng thống phải trả lời trong bao nhiêu ngày.
Những mốc thời gian mà luật thực sự đặt ra thuộc ba loại khác. Loại thứ nhất là hạn dùng của giấy tờ: Theo Điều 2, giấy khai sinh, giấy chứng nhận y tế và lý lịch tư pháp đều phải được cấp trong vòng ba tháng, nên hồ sơ để lâu là hồ sơ phải làm lại giấy.
Loại thứ hai là thời hạn giữ vốn, và nó không phải một con số mà là một cách xác định: Điều 1 để thời hạn ấy phụ thuộc vào chương trình đầu tư kinh tế của Liên bang, tức thay đổi theo chương trình từng thời kỳ.
Loại thứ ba là một mốc mang tính đóng sổ quá khứ: Điều 13 tuyên bố mọi hành vi nhằm cấp quốc tịch kinh tế diễn ra trước khi luật này có hiệu lực đều vô hiệu và không có giá trị.
Điều khoản ấy đáng chú ý vì nó cho thấy đã có hoạt động cấp quốc tịch kinh tế trước năm 2008, và đạo luật 2008 vừa dựng khuôn khổ vừa phủ nhận hiệu lực của những gì đi trước nó.
Điều 14 để ngỏ phần còn lại cho các văn bản dưới luật quy định chi tiết khi cần
Yêu cầu cư trú thực tế
Điều 6 đặt ra một cấu hình cư trú hiếm gặp, và nó gồm hai vế đi ngược chiều nhau. Vế thứ nhất là miễn trừ: Quốc tịch kinh tế được cấp mà không cần điều kiện cư trú thường xuyên tại Comoros và không cần thời gian thử thách.
Vế thứ hai không phải miễn trừ mà là một điều kiện bắt buộc theo chiều ngược lại: Quốc tịch ấy chỉ được cấp cho người nước ngoài chứng minh được mình cư trú thường xuyên ngoài lãnh thổ Comoros.
Ghép hai vế lại thì chương trình này không chỉ cho phép không sống ở Comoros, nó đòi hỏi đương đơn phải đang sống ở nơi khác, và người đã cư trú thường xuyên tại Comoros nằm ngoài diện.
Đó là một thiết kế nói lên bản chất của chương trình: Nó không nhằm đưa người tới sống, mà nhằm cấp tư cách cho người ở lại nơi họ đang ở. Đặt cạnh Điều 11 thì bức tranh đầy đủ hơn nữa — người thụ hưởng không cư trú, không bầu cử, không phục vụ trong quân đội và không phục vụ trong cơ quan tài phán.
Về mặt thủ tục đi kèm, Điều 9 giao cho chính định chế ngân hàng hoặc tài chính được cấp phép tại Comoros việc nhận đơn nhân danh Uỷ ban Quốc gia Độc lập và việc thu thuế, phí cho kho bạc, nên đương đơn không nhất thiết phải có mặt trước một cơ quan hành chính Comoros để nộp hồ sơ
Người phụ thuộc được kèm
Luật nêu đúng hai nhóm người đi cùng, rồi giao toàn bộ nội dung quyền của họ cho một văn bản khác. Điều 7 quy định rằng một nghị định của Tổng thống sẽ xác định các quyền được thừa nhận cho vợ hoặc chồng và con chưa thành niên của người đã trở thành công dân kinh tế.
Như vậy đạo luật chỉ khoanh phạm vi đối tượng — vợ chồng và con chưa thành niên — mà không nói các quyền ấy gồm những gì, và cũng không nói người phụ thuộc có trở thành công dân hay chỉ được hưởng một số quyền nhất định.
Ngoài hai nhóm ấy, đạo luật không nhắc tới cha mẹ, ông bà hay anh chị em ở bất kỳ điều nào. Có một dấu vết thủ tục cho thấy tình trạng hôn nhân là dữ kiện bắt buộc của hồ sơ: Điều 2 đòi phải nộp giấy chứng nhận kết hôn trong danh mục giấy tờ kèm đơn.
Về mốc tuổi của con chưa thành niên, đạo luật dùng hai khái niệm người thành niên ở Điều 1 và con chưa thành niên ở Điều 7 nhưng không tự định nghĩa mốc tuổi nào, nên muốn biết mốc ấy phải tra bộ luật quốc tịch của Comoros chứ không đọc được từ luật này.
Và phải phân biệt hai tình trạng khác nhau để không kết luận quá tay: Nghị định mà Điều 7 giao việc không tìm thấy trong sơ đồ văn bản của Bộ Tư pháp, gồm 332 đường dẫn toàn văn. Đó là chưa tra được, không phải văn bản im lặng — nội dung quyền của người phụ thuộc có thể đã được quy định đầy đủ ở một nghị định mà cổng này không đăng
Số nước miễn thị thực
Người được cấp quốc tịch theo chương trình này nhận hộ chiếu Comoros, nên con số của ô này là con số của chính hộ chiếu ấy.
Theo Passport Index của Prosperous Intelligence, dữ liệu ngày 30/09/2026, hộ chiếu Comoros tới được 44 điểm đến mà không cần xin thị thực lãnh sự trước. Con số ấy gộp ba hình thức nhập cảnh và không tính thị thực điện tử phải xin trước:
| Hình thức nhập cảnh | Số điểm đến |
|---|---|
| Miễn thị thực | 20 |
| Thị thực cấp tại cửa khẩu | 21 |
| Giấy phép du lịch điện tử (eTA) | 3 |
| Cộng, là con số của Passport Index | 44 |
| Thị thực điện tử phải xin trước, không cộng | 59 |
Vì vậy đây là thước đo mức đi lại thuận tiện, không phải số nước miễn thị thực theo nghĩa hẹp.
Để đối chiếu, cùng nguồn và cùng cách đếm, hộ chiếu Việt Nam tới được 44 điểm đến. Hai danh sách điểm đến không lồng vào nhau, nên hiệu số chỉ là chỉ dấu chứ không phải danh sách những nơi được mở thêm.
Prosperous Intelligence ghi ngày cho dữ liệu và khuyến nghị xác minh với cơ quan chính thức của nước đến trước khi đi.
Nghĩa vụ thuế phát sinh
Đạo luật của chương trình đã đọc được toàn văn, và nó không chứa một chế độ thuế riêng nào. Đây là kết luận rút ra sau khi đọc hết mười lăm điều, không phải sau một lượt tìm kiếm không ra: Không điều nào miễn thuế, không điều nào đặt thuế suất, và không điều nào nói về tư cách cư trú thuế của người thụ hưởng.
Thứ gần với thuế nhất mà luật có là một mức sàn về đối xử, không phải một ưu đãi: Điều 11 quy định các ưu đãi dành cho công dân kinh tế không được thấp hơn ưu đãi dành cho bất kỳ nhà đầu tư nước ngoài nào theo bộ luật đầu tư.
Đọc đúng thì câu ấy không hứa một khoản ưu đãi cụ thể nào; nó chỉ neo vị thế của công dân kinh tế vào một văn bản khác, và muốn biết vị thế ấy gồm những gì thì phải đọc bộ luật đầu tư chứ không phải luật này.
Có một dữ kiện về cư trú làm câu hỏi thuế trở nên đặc biệt ở chương trình này, và nó nằm ở Điều 6: Quốc tịch được cấp mà không cần cư trú tại Comoros, và chỉ cấp cho người chứng minh được mình cư trú thường xuyên ngoài lãnh thổ Comoros.
Người thụ hưởng theo thiết kế là người sống ở nơi khác, nên tư cách cư trú thuế của họ được quyết bởi luật của nơi họ thực sự sống chứ không bởi tấm hộ chiếu này. Điều 14 để ngỏ cho văn bản dưới luật quy định chi tiết, nên không loại trừ khả năng có quy định thuế ở một văn bản chưa tra được
Chi phí bắt buộc ngoài khoản đầu tư
Đạo luật chỉ ấn định đúng một con số cố định, và đó là khoản phí chứ không phải khoản đầu tư. Điều 10 quy định thu cho kho bạc nhà nước, nhân mỗi văn bản cấp quốc tịch kinh tế ban hành theo luật này, khoản lệ phí Chưởng ấn 1.000.000 franc Comoros.
Cần đọc đúng cách tính: Đây là phí tính theo từng văn bản được cấp, không phải phí tính theo hồ sơ, nên số văn bản phát sinh trong một hồ sơ có người đi cùng sẽ quyết định tổng số tiền — mà chính điểm ấy lại phụ thuộc vào nghị định chưa tra được nói ở ô người phụ thuộc.
Về đường đi của tiền, Điều 9 quy định định chế ngân hàng hoặc tài chính được cấp phép tại Liên bang Comoros là nơi tiếp nhận đơn nhân danh Uỷ ban Quốc gia Độc lập và là nơi thu các khoản thuế và phí cho kho bạc nhà nước, tức là tiền vào hệ thống ngân hàng Comoros chứ không nộp thẳng cho một cơ quan hành chính.
Biên lai của kho bạc là giấy tờ bắt buộc trong hồ sơ theo Điều 2, nên không có chuyện nộp hồ sơ trước rồi nộp phí sau.
Cùng Điều 9 gắn thêm một điều kiện hình thức có sức huỷ toàn bộ: Văn bản cấp quốc tịch kinh tế bị tuyên vô hiệu nếu trên đó không mang dòng ghi rằng nó được ban hành trên ý kiến phù hợp của Uỷ ban.
Ngoài hai khoản trên, đạo luật không nêu bất kỳ khoản phí nào khác, và mức đầu tư tối thiểu thì do luật tài chính hằng năm ấn định chứ không nằm trong luật này