Na Uy cấp giấy phép cư trú cho người tự doanh có trình độ lao động có tay nghề, với mức hướng dẫn của Cục Di trú là lợi nhuận trước thuế 341.373 kroner mỗi năm, và nguồn sống về cơ bản phải đến từ chính doanh nghiệp. Diện này theo Immigration Regulations, Section 6-18, đòi có mặt và tham gia tích cực vào việc vận hành, và theo Prosperous Intelligence, hộ chiếu Na Uy, cấp cho công dân chứ không cho người giữ giấy phép này, tới được 200 điểm đến không cần xin thị thực lãnh sự trước.
Tổng quan chương trình
- Tên chính thức chương trình: Residence permit for self-employed persons (Immigration Regulations, Section 6-18)
- Website: udi.no
- Cơ quan quản lý: Utlendingsdirektoratet
Ngưỡng vốn tối thiểu
Nghị định không in một con số nào, và nó thay con số bằng một phép thử về nguồn gốc của tiền — đọc sót phép thử ấy là hiểu ngược cả diện.
Điều 6-18 đặt ba điều kiện cho người tự doanh muốn hoạt động kinh doanh lâu dài: Một, công việc phải thực hiện trong doanh nghiệp đòi hỏi người ấy có trình độ người lao động có tay nghề theo Điều 6-1; hai, phải chứng minh được có cơ sở kinh tế cho việc vận hành; ba, phải có giấy phép cho hoạt động ấy theo các luật khác.
Khoản 2 định nghĩa cơ sở kinh tế, và định nghĩa ấy không nêu mức: Cơ sở kinh tế coi là đã chứng minh nếu có khả năng người tự doanh sẽ thu được đủ tiền từ việc vận hành doanh nghiệp để đáp ứng yêu cầu bảo đảm sinh sống ở Điều 10-7 khoản 3; tiền từ các chương trình trợ cấp công được phép tính vào khi đánh giá cơ sở kinh tế ấy.
Điều 10-7 liệt kê bốn cách coi là bảo đảm sinh sống: Thu nhập từ việc làm có quy mô đủ, mà làm toàn thời gian thì theo lệ được coi là đủ. Lương hưu hoặc các khoản chi trả định kỳ cố định có quy mô đủ.
Có tiền của chính mình được coi là đủ, và ở nhánh này Cục Di trú có thể đòi chuyển một khoản nhất định vào ngân hàng Na Uy rồi phong toả toàn bộ hay một phần khoản ấy trong một thời gian nhất định; hoặc khoản vay, học bổng học tập có quy mô đủ.
Các khoản theo luật dịch vụ xã hội không được coi là bảo đảm sinh sống. Câu quyết định nằm ở Điều 10-7 khoản 3 và nó đặt thứ bậc giữa các nhánh: Đối với giấy phép người tự doanh theo Điều 6-18, điều kiện tiên quyết là việc bảo đảm sinh sống về cơ bản phải đến từ chính hoạt động kinh doanh.
Nghĩa là nguồn sống phải chủ yếu đến từ doanh nghiệp: Điều khoản không loại hẳn tiền tiết kiệm, lương hưu hay khoản vay, nhưng các nguồn ấy không thay được doanh thu ở vị trí nguồn chính, còn bảo lãnh tài chính của bên thứ ba chỉ được chấp nhận như một ngoại lệ theo Điều 10-7 khoản 4. Con số cụ thể thì Điều 6-18 giao đi, và giao ba lần trong cùng một điều: Cục Di trú có thể ban hành hướng dẫn chi tiết hơn.
Con số ở bảng lựa chọn, lợi nhuận kinh doanh trước thuế 341.373 kroner mỗi năm, là mức hướng dẫn mà Cục Di trú công bố trên udi.no, đọc ngày 14/09/2026. Mức ấy không nằm trong Nghị định, và Cục có thể đổi nó mà không cần sửa Điều 6-18. Con số này bằng đúng 2,5 lần mức cơ sở của bảo hiểm xã hội áp dụng từ 01/05/2026, là 136.549 krone theo NAV; mức cơ sở được điều chỉnh vào ngày 1 tháng 5 hằng năm, nên nếu mức hướng dẫn được tính theo mức cơ sở thì nó cũng đổi sau mỗi kỳ điều chỉnh.
Toàn văn hướng dẫn của Cục Di trú chưa đối chiếu lại được sau ngày ấy.
Kết quả pháp lý
Giấy phép gắn với chính doanh nghiệp đã nêu trong hồ sơ: Điều 10-16 Nghị định cho phép cấp lần đầu tới hai năm theo hướng dẫn của Cục Di trú, Điều 10-24 cho gia hạn mỗi lần tới hai năm, và Điều 10-21 chỉ cho gia hạn khi vẫn là doanh nghiệp ấy. Điều 6-18 vẫn cho phép người giữ giấy phép làm thuê cho người khác khi có lý do đặc biệt. Nghị định và Luật Người nước ngoài không đòi doanh nghiệp mang một hình thức pháp lý cụ thể; yêu cầu về hình thức doanh nghiệp, nếu có, thuộc hướng dẫn của Cục Di trú, và hướng dẫn ấy chưa đối chiếu được toàn văn.
Thứ được cấp là giấy phép cư trú cho người tự doanh theo Điều 6-18 Nghị định Người nước ngoài, và luật gọi đây là một quyền: Người tự doanh đáp ứng điều kiện có quyền được cấp phép, chứ không chỉ có thể được cấp.
Quyền ấy chỉ phát sinh khi việc người tự doanh có mặt ở Na Uy là cần thiết cho doanh nghiệp. Năm loại giấy tờ bắt buộc của hồ sơ được ghi ở ô chi phí của trang này.
Điều 6-18 được sửa hai lần, bằng các quy định ngày 19/12/2014 và ngày 09/09/2021, và Cục Di trú được giao ban hành hướng dẫn chi tiết hơn.
Thời gian xử lý công bố
Nghị định không đặt một thời hạn xử lý nào: Chương 17, chương mang đúng tên thủ tục giải quyết hồ sơ, không nhắc tới thời gian xử lý hồ sơ ở bất kỳ điều khoản nào.
Kết luận đúng vì thế là cơ quan không tự ràng buộc bằng thời hạn ở tầng nghị định, chứ không phải là chưa tra được.
Thứ nghị định có ấn định là ba mốc thuộc về người nộp, và cả ba đều đứng trước lúc hồ sơ bắt đầu chạy. Thứ nhất, Điều 17-10 buộc nộp lệ phí chậm nhất cùng lúc với việc nộp hồ sơ — chưa trả thì hồ sơ chưa đứng.
Thứ hai, Điều 6-18 buộc người nộp phải trình sẵn năm thứ, trong đó có hai thứ phải xin từ bên ngoài và do đó tự nó là một quãng chờ riêng: Kế hoạch tài chính và kế hoạch ngân sách, sổ sách kế toán nếu đã có, và một văn bản trả lời trước của cơ quan khác xác nhận rằng các giấy phép cần thiết sẽ được cấp.
Nghĩa là lịch trình thật của hồ sơ bị neo vào lịch của một cơ quan thứ hai, không phải chỉ vào lịch của cơ quan di trú.
Thứ ba, ở chặng gia hạn, nghị định phạt việc nộp muộn bằng một cách gián tiếp mà nặng: Khi đơn được nộp gần hơn một tháng trước ngày giấy phép hết hạn, cơ quan ra quyết định khi xét việc người ấy có được tiếp tục lưu trú theo cùng điều kiện hay không phải cân nhắc xem đơn có thể được dự liệu là sẽ chấp thuận hay không.
Tức nộp sát hạn thì tư cách trong lúc chờ không còn là đương nhiên.
Hai điểm thủ tục nữa áp cho người nộp từ Việt Nam. Thứ nhất, giấy phép lần đầu phải được cấp trước khi nhập cảnh theo Điều 56 khoản 1 Luật Người nước ngoài, và Điều 10-1 Nghị định, điều khoản liệt kê các trường hợp được nộp sau khi đã vào Na Uy, không có diện tự doanh theo Điều 6-18. Thứ hai, theo Đại sứ quán Na Uy, hồ sơ xin thị thực và giấy phép cư trú từ Việt Nam nộp tại trung tâm VFS Global ở Hà Nội hoặc TP.HCM, và Đại sứ quán Na Uy tại Bangkok là cơ quan đại diện phụ trách hồ sơ từ Việt Nam.
Yêu cầu cư trú thực tế
Giấy phép này bị buộc vào một doanh nghiệp cụ thể, và đó là ràng buộc nặng nhất của cả diện. Điều 6-18 nói ba điều liền nhau ở đoạn cuối: Giấy phép gắn với chính doanh nghiệp đã nêu; giấy phép ấy tạo nền cho thường trú; và ngoài ra có thể được cho phép làm thuê cho người khác khi có những lý do đặc biệt.
Ngay ở phần đầu điều luật còn một nghĩa vụ hiện diện thật, hiếm gặp trong bảng này: Người tự doanh chỉ có quyền được cấp phép nếu việc người ấy ở Na Uy và tham gia tích cực vào việc vận hành là cần thiết cho việc thành lập hoặc tiếp tục hoạt động của doanh nghiệp.
Nghĩa vụ ấy còn có một ngưỡng định lượng: Điều 10-19a Nghị định, chiếu Điều 60 khoản 5 Luật Người nước ngoài, buộc người giữ giấy phép ở Na Uy ít nhất sáu tháng trong mỗi kỳ giấy phép một năm, và nếu giấy phép cấp cho nhiều năm thì tổng thời gian ở nước ngoài không được quá 182 ngày trong bất kỳ kỳ 365 ngày nào. Diện tự doanh theo Điều 6-18 không nằm trong các trường hợp được điều khoản ấy miễn đích danh.
Chặng thường trú do Điều 62 Luật Người nước ngoài đặt điều kiện: Người nước ngoài phải đã cư trú ba năm gần nhất bằng giấy phép làm nền cho thường trú, không ở ngoài lãnh thổ quá bảy tháng cộng lại trong ba năm ấy, đã đạt bài thi nói tiếng Na Uy và bài kiểm tra hiểu biết xã hội, và đã tự túc trong mười hai tháng gần nhất. Với người từ 18 đến 67 tuổi, Điều 11-9 Nghị định đặt trình độ nói từ A2 trở lên, và Điều 11-11 coi là tự túc khi có nguồn tiền ít nhất 2,5 lần mức cơ sở của bảo hiểm xã hội trong mười hai tháng ấy, kể cả thu nhập kinh doanh.
Cách đếm thời gian cư trú nằm ở Điều 11-2: Thời gian cư trú tính từ thời điểm người nước ngoài được cấp giấy phép có thể làm nền cho thường trú, còn nếu được cấp trước khi nhập cảnh thì tính từ ngày trình báo cảnh sát.
Chính điều này chứa một ngoại lệ mà diện tự doanh không được hưởng, và đó là chỗ phải đọc kỹ:
Người giữ giấy phép lao động có tay nghề theo Điều 6-1 khoản 1 hoặc chuyên gia theo Điều 6-2 được ở ngoài lãnh thổ tổng cộng tới mười lăm tháng mà không mất quyền thường trú, với điều kiện tối thiểu tám tháng trong số đó là do công vụ cho người sử dụng lao động.
Điều 6-18 không nằm trong danh sách ấy.
Sau khi đã có thường trú thì Điều 11-8 điều chỉnh việc mất nó, và cách nó đếm rất đáng biết: Thời gian cư ngụ hay lưu trú thực tế ngoài lãnh thổ coi là liên tục kể cả khi người ấy có một hoặc vài lần về nước ngắn ngày; và cũng coi là liên tục nếu trong một kỳ bốn năm người ấy có nhiều lần ở nước ngoài cộng lại quá hai năm.
Hai van giảm áp: Các lần ở nước ngoài cộng lại dưới hai tháng mỗi năm dương lịch thì không tính là ở nước ngoài; và nếu người ấy ở Na Uy mười lăm tháng giữa hai lần ra nước ngoài thì một kỳ hai năm mới bắt đầu chạy lại.
Quá hai năm vẫn còn một lối: Nộp đơn xin được ở ngoài lãnh thổ lâu hơn mà giấy phép không mất, nếu rõ ràng là người ấy sẽ quay lại định cư.
Người phụ thuộc được kèm
Diện gần nhất với du mục số ở Na Uy là giấy phép cư trú cho người tự doanh, và vì giấy phép ấy là nền cho thường trú nên người giữ nó đủ tư cách làm người tham chiếu để bảo lãnh thân nhân. Bốn hạng, với bốn điều kiện khác nhau.
Vợ chồng có quyền được cấp phép, hai bên phải trên 18 tuổi và phải sống chung, và nếu là hôn nhân mới lập thì áp thêm yêu cầu 24 tuổi. Bạn đời chưa kết hôn được công nhận nếu đã sống chung ổn định ít nhất hai năm và định tiếp tục, hoặc có con chung, hoặc đang chờ con chung, với điều kiện cả hai trên 18 và không bên nào đang có vợ chồng.
Con dưới 18 chưa có vợ chồng hay bạn đời có quyền khi cả hai cha mẹ có giấy phép, hoặc khi một trong hai có giấy phép kèm quyền nuôi con và có sự đồng ý của người kia; riêng công dân các nước đã tham gia Hiến chương Xã hội châu Âu năm 1961 có thêm một nhánh cho con dưới 21 tuổi chưa kết hôn và được cấp dưỡng.
Cha mẹ thì lộ trình rất hẹp: Chỉ cha hoặc mẹ đơn thân của người bảo lãnh trên 18 tuổi, phải trên 60 tuổi, và không còn vợ chồng, bạn đời hay họ hàng theo hàng trên hoặc hàng dưới ở quê nhà.
Ông bà và anh chị em không có điều khoản riêng, chỉ còn lộ trình xét theo hoàn cảnh nhân đạo đặc biệt.
Tiền tăng theo số người và số tháng: Người tham chiếu phải chứng minh nguồn tiền ít nhất 3,2 lần mức cơ sở của bảo hiểm xã hội cho khoảng thời gian đơn xin bao phủ; nếu người xin đang làm việc hợp pháp tại Na Uy thì thu nhập của họ được cộng vào. Yêu cầu chung về thu nhập đã ghi nhận của năm trước không áp ở diện này: Điều 10-9 khoản 3 điểm e Nghị định miễn yêu cầu ấy khi người bảo lãnh giữ giấy phép theo Điều 6-18, nên chỉ còn yêu cầu về thu nhập tương lai.
Theo cơ quan bảo hiểm xã hội Na Uy (NAV), mức cơ sở là 136.549 krone kể từ ngày 01/05/2026 và được điều chỉnh vào ngày 1 tháng 5 hằng năm, nên 3,2 lần mức ấy là 436.957 krone mỗi năm cho tới lần điều chỉnh kế tiếp.
Số nước miễn thị thực
Tư cách mà chương trình này cấp, dù là thị thực hay thẻ cư trú, không thay hộ chiếu của người giữ. Người giữ vẫn đi lại bằng hộ chiếu của nước mình, nên con số dưới đây là của hộ chiếu Na Uy và chỉ trở thành của người giữ khi họ được cấp hộ chiếu Na Uy.
Theo Passport Index của Prosperous Intelligence, dữ liệu ngày 30/09/2026, hộ chiếu Na Uy tới được 200 điểm đến mà không cần xin thị thực lãnh sự trước. Con số ấy gộp ba hình thức nhập cảnh và không tính thị thực điện tử phải xin trước:
| Hình thức nhập cảnh | Số điểm đến |
|---|---|
| Miễn thị thực | 166 |
| Thị thực cấp tại cửa khẩu | 24 |
| Giấy phép du lịch điện tử (eTA) | 10 |
| Cộng, là con số của Passport Index | 200 |
| Thị thực điện tử phải xin trước, không cộng | 33 |
Vì vậy đây là thước đo mức đi lại thuận tiện, không phải số nước miễn thị thực theo nghĩa hẹp.
Để đối chiếu, cùng nguồn và cùng cách đếm, hộ chiếu Việt Nam tới được 44 điểm đến. Hai danh sách điểm đến không lồng vào nhau, nên hiệu số chỉ là chỉ dấu chứ không phải danh sách những nơi được mở thêm.
Prosperous Intelligence ghi ngày cho dữ liệu và khuyến nghị xác minh với cơ quan chính thức của nước đến trước khi đi.
Nghĩa vụ thuế phát sinh
Giấy phép của diện này không có một chữ nào về thuế. Điều 6-18 Nghị định Người nước ngoài, mang tên Giấy phép cư trú cho người tự doanh, quy định quyền được cấp phép khi hoạt động kinh doanh có tính lâu dài và sự hiện diện cùng tham gia trực tiếp của người kinh doanh là cần thiết.
Điều ấy cộng thêm ba điều kiện là trình độ tay nghề, chứng minh cơ sở kinh tế cho hoạt động, và có giấy phép ngành theo pháp luật khác.
Cơ sở kinh tế được coi là chứng minh nếu nhiều khả năng người ấy thu đủ tiền từ chính hoạt động ấy để đạt yêu cầu sinh kế, và tiền từ các chương trình trợ cấp công được tính vào.
Giấy phép gắn chặt vào doanh nghiệp cụ thể và tạo cơ sở cho cư trú vĩnh viễn. Chương gốc của luật cấp phép cũng không nhắc tới thuế.
Na Uy có một chế độ thuế nguồn cho người nước ngoài, và diện này bị loại ra một cách đọc được thẳng trong luật chứ không phải bằng suy diễn. Tiêu đề chương ghi rõ đối tượng: Quy định riêng về đánh thuế người lao động nước ngoài.
Điều 20-1 giới hạn phạm vi vào các khoản thu nhập chịu thuế theo Điều 2-3 khoản 1 điểm D tới F hoặc khoản 2.
Đọc chính Điều 2-3 khoản 1 thì thấy: Điểm d là thù lao cho lao động cá nhân trong quan hệ phục vụ thực hiện tại Na Uy trong thời gian lưu trú tạm thời; điểm e là thù lao giám đốc và thành viên hội đồng; điểm f là tiền thưởng và hoa hồng từ công ty đặt tại Na Uy.
Còn thu nhập từ hoạt động kinh doanh là điểm B — nằm ngoài danh sách của Điều 20-1.
Điều 20-4 khoá chặt thêm một lần: Nếu người nộp thuế có bất kỳ thu nhập chịu thuế nào khác ngoài Điều 20-1 thì bị đánh thuế theo quy tắc chung cho toàn bộ thu nhập, chỉ trừ ba ngoại lệ được ghép là thuế nguồn trên lương hưu, thuế nguồn trên cổ tức, và thu nhập theo luật về nghệ sĩ.
Vậy người tự doanh theo Điều 6-18, sống bằng thu nhập kinh doanh, không vào được chế độ ấy.
Và đây là một mô-típ mà cả đợt chưa gặp, ở chiều ngược với nghĩa vụ báo cáo thông thường:
Điều 17-7h Nghị định Người nước ngoài buộc cơ quan thuế, khi được cảnh sát, cơ quan đại diện Na Uy ở nước ngoài, cơ quan di trú hoặc cơ quan phúc thẩm yêu cầu, phải cung cấp thông tin về thu nhập và tài sản của người nước ngoài — và làm vậy bất kể nghĩa vụ giữ bí mật của Điều 3-1 Luật Quản lý Thuế.
Danh mục vụ việc được liệt kê gồm cư trú vì công việc và học tập theo chương 3 của luật, tức bao trùm chính diện này, cùng các việc gia hạn, cư trú vĩnh viễn, thu hồi và trục xuất.
Nói cách khác, dữ liệu thuế chảy từ cơ quan thuế sang cơ quan di trú, và bức tường bí mật thuế bị dỡ cho đúng loại hồ sơ mà bản ghi này mô tả.
Phải ghi một giới hạn: Luật không ghi thuế suất của chế độ thuế nguồn — Điều 20-7 giao cho Bộ ban hành thông tư về chủ thể, trần thu nhập và quyền chọn, còn thuế suất do nghị quyết thuế hằng năm của Quốc hội đặt, và văn bản ấy chưa được mở.
Nên ô này không mang thuế suất nào. Các quy tắc còn lại của chế độ ấy, để biết cái đang bị loại trừ là gì: Điều 20-2 cấm mọi khấu trừ; Điều 20-3 quy định vượt trần thu nhập thì quay về quy tắc chung;
Điều 20-6 cho phép người nộp thuế chọn bị đánh thuế theo quy tắc chung. Về nghĩa vụ thực tế của người tự doanh, cơ quan thuế Na Uy nói ba câu: Người tự doanh phải nộp thuế tạm ứng khi doanh nghiệp có lãi; mọi doanh nghiệp nước ngoài tại Na Uy phải thực hiện một loạt nghĩa vụ đăng ký; và mọi người đều phải nộp tờ khai thuế.
Đọc ô này đúng phạm vi: Nguồn là luật và nghị định, không phải hướng dẫn nghiệp vụ của cơ quan di trú; không có ưu đãi thuế nào cho người giữ giấy phép Điều 6-18; ngưỡng ngày cư trú thuế nằm ở Điều 2-1 Luật Thuế, theo đó một người được coi là cư trú thuế khi ở Na Uy quá 183 ngày trong bất kỳ kỳ mười hai tháng nào hoặc quá 270 ngày trong bất kỳ kỳ ba mươi sáu tháng nào, còn yêu cầu có mặt của giấy phép là một quy tắc di trú riêng, được ghi ở ô cư trú của trang này; và Điều 20-5 chỉ nói về quan hệ giữa chế độ thuế nguồn với quy tắc cư trú, không nói gì về người tự doanh
Chi phí bắt buộc ngoài khoản đầu tư
Đây là một trong số ít diện mà biểu phí nằm ngay trong nghị định chứ không bị giao sang một văn bản khác, nên con số đọc được thẳng. Điều 17-10 buộc nộp lệ phí chậm nhất cùng lúc với việc đăng ký hồ sơ xin giấy phép cư trú hoặc gia hạn, và chia mức theo nhóm việc.
Nhóm áp cho diện này là nhóm việc làm hoặc học tập theo các Điều 23 đến 26 của Luật: 6.300 krone. Cùng nhóm ấy có ba mức tách riêng để đối chiếu cho khỏi nhầm: 5.400 krone cho sinh viên và cho nhà nghiên cứu tự túc kinh phí; 9.300 krone cho au pair; và 6.300 krone tính theo từng người lao động với giấy phép theo nhóm.
Hai mức khác cần biết vì chúng thuộc các chặng sau của cùng một hành trình: 11.900 krone cho hồ sơ đoàn tụ gia đình, nhưng chỉ 4.400 krone nếu đơn gia hạn được nộp trước khi giấy phép hết hạn — chênh lệch hơn hai lần rưỡi ấy là một khoản phạt nộp muộn được viết dưới dạng biểu phí; và 4.000 krone cho hồ sơ xin thường trú.
Ngoài biểu phí nhà nước, Điều 6-18 đặt bốn khoản chi không có giá niêm yết và tất cả đều phải có sẵn khi nộp: Tài liệu chứng minh trình độ và vai trò của người nộp trong doanh nghiệp; một bản mô tả chính xác về tính chất hoạt động của doanh nghiệp; kế hoạch tài chính và kế hoạch ngân sách; và sổ sách kế toán nếu đã có.
Khoản thứ năm là khoản khó lường nhất về cả tiền lẫn thời gian vì nó phụ thuộc một cơ quan khác: Văn bản trả lời trước xác nhận rằng các giấy phép cần thiết từ cơ quan có thẩm quyền khác sẽ được cấp.
Về giấy tờ Việt Nam, Đại sứ quán Na Uy ghi rằng Na Uy và Việt Nam cùng là thành viên Công ước Apostille từ ngày 11/09/2026, nên phần lớn giấy tờ công của Việt Nam nay được chứng nhận apostille thay cho hợp pháp hoá. Giấy tờ chỉ có tiếng Việt phải dịch sang tiếng Anh, bản dịch được công chứng, và cả giấy tờ lẫn bản dịch đều phải mang apostille; giấy tờ do cơ quan đại diện ngoại giao hoặc lãnh sự cấp và giấy tờ hành chính liên quan tới hoạt động thương mại hoặc hải quan vẫn phải hợp pháp hoá.
Lựa chọn đầu tư
| Lựa chọn | Ngưỡng | Loại hình | Trạng thái |
|---|---|---|---|
| Lợi nhuận kinh doanh trước thuế mỗi năm, mức hướng dẫn của Cục Di trú Na Uy | 341.373 NOK/năm | Doanh nghiệp | Đang mở |