Bulgaria đã đóng cửa nhập tịch theo đầu tư từ ngày 01/04/2022, khi các điều luật mang lộ trình ấy bị bãi bỏ và hồ sơ dở dang bị đình chỉ; trước đó, một đường nhập tịch nhanh là người đã thường trú ít nhất một năm đầu tư thêm tối thiểu 1.000.000 leva vào một công ty Bulgaria cho dự án ưu tiên. Người đã nhập tịch theo lộ trình cũ từng phải duy trì khoản đầu tư một tới hai năm và vẫn chịu thời hiệu thu hồi mười năm, và theo Prosperous Intelligence, hộ chiếu Bulgaria tới được 190 điểm đến không cần xin thị thực lãnh sự trước.
Tổng quan chương trình
- Tên chính thức chương trình: Bulgarian Citizenship by Investment ("golden passport")
- Website: justice.government.bg
- Cơ quan quản lý: Ministry of Justice
Ngưỡng vốn tối thiểu
Ngưỡng tra được, và nó nằm trong chính điều luật mà cơ quan đã xoá khỏi bản hợp nhất. Điều 14a khoản 1 của Luật Quốc tịch, bản còn hiệu lực trước ngày 01/04/2022, mở ba đường nhập tịch nhanh và mỗi đường có một mức riêng.
Đường thứ nhất dành cho người đã giữ giấy phép cư trú vĩnh viễn ít nhất một năm theo Điều 25 khoản 1 điểm 6 hoặc 7 của Luật Người nước ngoài, và người ấy phải chọn một trong hai.
Hoặc là đã nhân đôi khoản đầu tư của mình theo cùng điều kiện của luật. Hoặc là đã đầu tư thêm vào vốn của một công ty thương mại Bulgaria một khoản không dưới 1.000.000 leva cho một dự án đầu tư ưu tiên được chứng nhận theo Luật Khuyến khích Đầu tư.
Đường thứ hai dành cho người có giấy phép theo Điều 25 khoản 1 điểm 13, với điều kiện trong suốt năm ấy các khoản đầu tư đã thực hiện và đưa vào vận hành được duy trì trên ngưỡng tối thiểu để cấp chứng nhận đầu tư hạng A, và việc này do Bộ Kinh tế xác nhận.
Đường thứ ba dành cho người có giấy phép theo Điều 25 khoản 1 điểm 16, phải tăng khoản đầu tư theo cùng điều kiện lên ít nhất 1.000.000 leva và phải tạo ra được tối thiểu hai mươi chỗ làm mới cho công dân Bulgaria.
Phải đọc đúng phạm vi của những con số này: Luật Quốc tịch chỉ ấn định phần tăng thêm để đổi giấy phép cư trú lấy quốc tịch, còn ngưỡng gốc để có giấy phép cư trú vĩnh viễn nằm ở Luật Người nước ngoài, là văn bản khác. Cả hai điều luật này đã bị bãi bỏ từ ngày 01/04/2022
Kết quả pháp lý
Bản hợp nhất Luật Quốc tịch Bulgaria do Bộ Tư pháp công bố không còn lộ trình nhập tịch theo đầu tư. Hai điều luật từng mang lộ trình ấy là Điều 12a và Điều 14a nay đứng trong văn bản với nhãn "đã bãi bỏ", theo Luật Sửa đổi Luật Quốc tịch Bulgaria đăng Công báo Nhà nước số 26 năm 2022.
Và việc bãi bỏ không chừa hồ sơ đang chạy: Đoạn 7 phần chuyển tiếp của luật sửa đổi ấy quy định các thủ tục theo Điều 12a và Điều 14a đã bãi bỏ mà chưa kết thúc tại thời điểm luật sửa đổi có hiệu lực thì bị đình chỉ.
Cùng đợt sửa đổi năm 2022 ấy còn bãi bỏ điểm 4 khoản 1 Điều 22 và khoản 2 Điều 32a, tức các quy định vệ tinh của cùng cơ chế
Thời gian xử lý công bố
Việc bãi bỏ không cắt các đồng hồ đang chạy trên đầu người đã nhập tịch theo lộ trình cũ.
Đồng hồ thứ nhất, duy trì khoản đầu tư: Người nhập tịch theo Điều 14a khoản 1 đã bãi bỏ phải duy trì khoản đầu tư tối thiểu hai năm kể từ ngày nhập tịch; người nhập tịch theo Điều 12a khoản 1 đã bãi bỏ phải duy trì tối thiểu một năm; riêng trường hợp theo điểm 3 khoản 1 Điều 14a đã bãi bỏ thì còn phải duy trì cả số việc làm đã tạo ra.
Đồng hồ thứ hai, báo cáo thay đổi: Khi có thay đổi về các dữ kiện và tình tiết liên quan tới khoản đầu tư đã làm căn cứ nhập tịch, người ấy phải thông báo cho cơ quan có thẩm quyền đã xác nhận khoản đầu tư trong mười bốn ngày và nộp giấy tờ chứng minh.
Đồng hồ thứ ba, thời hiệu thu hồi: Việc thu hồi quyết định nhập tịch chỉ được phép tới khi hết mười năm kể từ ngày có quốc tịch Bulgaria, trừ trường hợp các dữ kiện liên quan tới việc người ấy tham gia khủng bố, và với điều kiện người ấy không trở thành vô quốc tịch.
Về thời hạn xử lý, đề nghị thu hồi nhập tịch được quyết trong ba tháng, rút xuống một tháng khi dữ kiện liên quan tới khủng bố hoặc bản án đã có hiệu lực thuộc các Điều 114a tới 114t Bộ luật Hình sự — mốc một tháng này do sửa đổi đăng Công báo số 61 năm 2025, có hiệu lực từ 31/01/2026
Yêu cầu cư trú thực tế
Sau khi lộ trình đã đóng, luật vẫn dựng một vòng giám sát ba bên đối với những người đã nhập tịch theo lộ trình ấy. Bộ Tư pháp gửi cho cơ quan có thẩm quyền xác nhận đầu tư danh sách những người đã có quốc tịch Bulgaria trên căn cứ Điều 12a và Điều 14a đã bãi bỏ.
Cơ quan ấy có nghĩa vụ thông báo ngược lại cho Bộ trưởng Tư pháp về mọi thay đổi được xác lập trong khoản đầu tư dẫn tới việc không thực hiện nghĩa vụ duy trì.
Và sau khi hết thời hạn duy trì, chính cơ quan ấy còn phải tiến hành kiểm tra rồi báo kết quả cho Bộ trưởng Tư pháp, người có quyền yêu cầu thông tin từ Cơ quan Nhà nước "An ninh Quốc gia".
Căn cứ thu hồi gồm ba nhóm: Dùng dữ kiện đã được toà án xác định là không đúng sự thật; che giấu dữ kiện mà nếu biết thì đã là căn cứ từ chối; và không thông báo thay đổi theo Điều 32a
Người phụ thuộc được kèm
Diện gia đình của chương trình này có một cấu trúc hiếm gặp, và điểm mấu chốt là đường của người phối ngẫu bị khoá vào lựa chọn của đương đơn chính. Có hai lối.
Lối thứ nhất, theo Điều 12a khoản 1, là lối rộng: Người đã được cấp giấy phép cư trú vĩnh viễn theo Điều 25 khoản 1 điểm 6, 7 hoặc 8 của Luật Người nước ngoài — hoặc với tư cách thành viên gia đình của một người như vậy — có thể nhập quốc tịch nếu hội đủ các điều kiện chung tại Điều 12 khoản 1 các điểm 1, 2, 3 và 4.
Nói cách khác, thành viên gia đình không phải là người ăn theo hồ sơ của đương đơn, mà tự đứng tên trên chính giấy phép cư trú của mình rồi đi con đường nhập tịch thông thường.
Lối thứ hai, tại Điều 12a khoản 2 và chỉ mới thêm vào năm 2021, dành riêng cho vợ hoặc chồng, và nó nhanh hơn nhưng kèm hai điều kiện cứng.
Điều kiện thứ nhất: Người phối ngẫu phải đã được cấp giấy phép cư trú vĩnh viễn từ không dưới ba năm trước ngày nộp đơn nhập tịch.
Điều kiện thứ hai, và đây là chỗ quyết định: Người kia phải đã nhập quốc tịch theo Điều 14a khoản 1, tức phải đi đúng con đường nhân đôi khoản đầu tư hoặc bỏ thêm một triệu leva.
Đương đơn chính chọn đường chậm thì người phối ngẫu mất lối này. Đạo luật không nêu một diện riêng nào cho cha mẹ hay anh chị em.
Cả hai điều luật đã bị bãi bỏ ngày 01/04/2022, và Điều 7 của luật bãi bỏ chấm dứt mọi hồ sơ chưa xử xong theo hai điều ấy
Số nước miễn thị thực
Người được cấp quốc tịch theo chương trình này nhận hộ chiếu Bulgaria, nên con số của ô này là con số của chính hộ chiếu ấy.
Theo Passport Index của Prosperous Intelligence, dữ liệu ngày 30/09/2026, hộ chiếu Bulgaria tới được 190 điểm đến mà không cần xin thị thực lãnh sự trước. Con số ấy gộp ba hình thức nhập cảnh và không tính thị thực điện tử phải xin trước:
| Hình thức nhập cảnh | Số điểm đến |
|---|---|
| Miễn thị thực | 157 |
| Thị thực cấp tại cửa khẩu | 24 |
| Giấy phép du lịch điện tử (eTA) | 9 |
| Cộng, là con số của Passport Index | 190 |
| Thị thực điện tử phải xin trước, không cộng | 34 |
Vì vậy đây là thước đo mức đi lại thuận tiện, không phải số nước miễn thị thực theo nghĩa hẹp.
Để đối chiếu, cùng nguồn và cùng cách đếm, hộ chiếu Việt Nam tới được 44 điểm đến. Hai danh sách điểm đến không lồng vào nhau, nên hiệu số chỉ là chỉ dấu chứ không phải danh sách những nơi được mở thêm.
Prosperous Intelligence ghi ngày cho dữ liệu và khuyến nghị xác minh với cơ quan chính thức của nước đến trước khi đi.
Nghĩa vụ thuế phát sinh
Chương trình này không còn tồn tại, và toàn bộ Luật Quốc tịch Bulgaria không chứa một lần nào các gốc từ chỉ thuế — tức không có bất kỳ quy định thuế nào gắn với việc nhập tịch, kể cả ở bản gốc lẫn ở các điều khoản chuyển tiếp.
Hai điều luật lập ra chương trình đều mang nhãn bãi bỏ: Điều 12а ghi đã bãi bỏ theo Công báo số 26 năm 2022, và Điều 14а ghi được ban hành theo Công báo số 16 năm 2013 rồi đã bãi bỏ theo Công báo số 26 năm 2022.
Điều khoản chuyển tiếp thứ 7 của luật sửa đổi ấy đóng cửa với cả hồ sơ đang chạy: Các thủ tục chưa hoàn tất theo chế định hai điều đã bãi bỏ thì chấm dứt. Nhưng phần đáng đọc nhất của bản ghi này nằm ở những gì còn lại cho người đã nhập tịch, vì nghĩa vụ của họ không kết thúc cùng chương trình.
Điều khoản chuyển tiếp thứ 8 khoản 1: Người đã nhập tịch theo Điều 12а hoặc 14а đã bãi bỏ có nghĩa vụ, trong thời hạn mười bốn ngày kể từ khi có thay đổi trong các dữ kiện và tình tiết liên quan tới khoản đầu tư làm căn cứ nhập tịch, thông báo cho cơ quan có thẩm quyền đã chứng nhận khoản đầu tư và nộp tài liệu chứng minh thay đổi.
Khoản 2 nói rõ chế tài, và nó nặng: Việc nhập tịch có thể bị huỷ nếu người ấy không thông báo, hoặc không duy trì khoản đầu tư ít nhất hai năm trong trường hợp Điều 14а khoản 1, hoặc ít nhất một năm trong trường hợp Điều 12а khoản 1; riêng trường hợp Điều 14а khoản 1 điểm 3 còn phải duy trì số việc làm đã tạo ra.
Khoản 3 dựng cơ chế kiểm tra chéo: Bộ Tư pháp gửi cho cơ quan có thẩm quyền danh sách những người đã nhập tịch theo hai điều đã bãi bỏ, và cơ quan ấy phải báo lại Bộ trưởng Tư pháp mọi thay đổi dẫn tới không còn duy trì đầu tư.
Khoản 4: Cơ quan có thẩm quyền thực hiện kiểm tra sau khi hết thời hạn duy trì và báo kết quả cho Bộ trưởng Tư pháp, còn Bộ trưởng có thể yêu cầu thông tin từ Cơ quan Nhà nước An ninh Quốc gia.
Cơ quan có thẩm quyền đã đổi tên trong chính luật: Cụm Bộ Kinh tế và Bộ trưởng Kinh tế được thay bằng Bộ Đổi mới và Tăng trưởng. Phải giữ đúng một giới hạn ở đây, vì nó dễ bị nới rộng: Nghĩa vụ hậu nhập tịch còn hiệu lực là nghĩa vụ báo cáo dữ liệu đầu tư, không phải dữ liệu thuế.
Đây không phải mô-típ báo cáo thuế mà là mô-típ duy trì điều kiện. Và giới hạn thứ hai: Phép thử cư trú thuế theo luật định của Bulgaria chưa xác minh được tại nguồn chính thức của cơ quan thuế quốc gia và Bộ Tài chính.
Đọc ô này đúng phạm vi: Luật Quốc tịch nói về căn cứ có, mất và huỷ quốc tịch, và về nghĩa vụ hậu nhập tịch của những người được cấp trước khi bãi bỏ; nó không nói gì về thuế, không nói người đã nhập tịch theo hai điều bãi bỏ được hưởng hay bị mất chế độ thuế nào.
Vì chương trình không còn tồn tại kể từ Công báo số 26 năm 2022, không có chế độ thuế nào gắn với chương trình này ở thời điểm hiện tại
Chi phí bắt buộc ngoài khoản đầu tư
Đề nghị thu hồi quyết định nhập tịch do viện trưởng viện công tố đưa ra; ngoài ra nếu hội đủ điều kiện tại Điều 22 hoặc Điều 24 thì Bộ trưởng Tư pháp cũng có thể tự mình đề nghị. Mọi đơn và giấy tờ kèm theo phải viết bằng tiếng Bulgaria.
Về hệ quả đối với gia đình, Điều 23 trả lời dứt khoát: Việc thu hồi quyết định nhập tịch của một người vợ hoặc chồng không làm mất hiệu lực quyết định nhập tịch của người kia và của các con — trừ khi chính họ đã có quốc tịch Bulgaria trên cơ sở cùng những dữ kiện không đúng sự thật hoặc bị che giấu ấy.
Việc thẩm định hồ sơ quốc tịch đi qua Hội đồng Quốc tịch đặt tại Bộ Tư pháp, do một Thứ trưởng Tư pháp làm chủ tịch, với thành viên là đại diện của chín bộ ngành và cơ quan, trong đó có Cơ quan Nhà nước "An ninh Quốc gia"; Hội đồng chỉ cho ý kiến sau khi đã có văn bản quan điểm của Bộ Nội vụ và của Cơ quan An ninh Quốc gia
Lựa chọn đầu tư
| Lựa chọn | Ngưỡng | Loại hình | Trạng thái |
|---|---|---|---|
| Đầu tư thêm vào vốn công ty Bulgaria cho dự án ưu tiên, đường thứ nhất | 1.000.000 BGN | Doanh nghiệp | Đã đóng |
| Tăng khoản đầu tư kèm tối thiểu hai mươi chỗ làm mới, đường thứ ba | 1.000.000 BGN | Doanh nghiệp | Đã đóng |