Quốc tịch theo đầu tư Albania mới là một đề xuất, chưa vận hành: Bản hợp nhất Luật Quốc tịch số 113 năm 2020 không nhắc tới đầu tư và không đặt ngưỡng vốn nào. Con đường gần nhất đang có là nhập tịch vì lợi ích nhà nước đặc biệt theo Điều 9, cần bộ trưởng phụ trách bảo đảm trước Tổng thống, còn nhập tịch thông thường đòi bảy năm cư trú hợp pháp liên tục kèm giấy phép cư trú vĩnh viễn còn hiệu lực lúc nộp đơn; theo Prosperous Intelligence, hộ chiếu Albania tới được 121 điểm đến không cần xin thị thực lãnh sự trước.
Tổng quan chương trình
- Tên chính thức chương trình: Albania Citizenship by Investment (golden passport scheme)
- Website: mb.gov.al
Ngưỡng vốn tối thiểu
Luật không đặt một ngưỡng tiền nào, và cũng không có hình thức đầu tư để mà đặt: Toàn văn đạo luật không nhắc tới việc đầu tư. Thứ luật đặt là một chuẩn thu nhập trượt, và cách nó trượt mới là điều đáng ghi.
Điều 8 khoản 1 điểm d buộc đương đơn có thu nhập và nguồn tài chính hợp pháp, đủ để sinh sống tại Albania, tương ứng với chuẩn sống tối thiểu — và chuẩn ấy được điều chỉnh theo chỉ số hằng năm, gắn với chỉ số giá của một số mặt hàng được chọn, quy định trong quy chế của Viện Bảo hiểm Xã hội.
Nghĩa là mức tiền phải có không nằm trong luật quốc tịch mà nằm trong một văn bản của cơ quan bảo hiểm xã hội, và nó đổi mỗi năm mà không cần sửa luật.
Hai chữ đáng đọc kỹ là hợp pháp và tương ứng: Điều luật đòi nguồn gốc của tiền, không chỉ số lượng; và nó neo vào chuẩn sống tối thiểu chứ không neo vào một bội số của lương như nhiều nước khác.
Ngoài tiền, Điều 8 còn đòi một điều kiện vật chất riêng ở điểm ç: Phải có chỗ ở phù hợp với các tiêu chuẩn nhà ở đã được phê duyệt tại Albania — tức nhà ở là một điều kiện độc lập, không được coi là đã bao trong điều kiện thu nhập.
Kết quả pháp lý
Không có kết quả pháp lý nào cho một diện đầu tư, vì diện ấy không tồn tại trong luật: Bản hợp nhất Luật Quốc tịch số 113 năm 2020, cập nhật tới 08/06/2026, không nhắc tới việc đầu tư ở bất kỳ điều khoản nào.
Thứ tồn tại, và là thứ người có tiền hay bị chỉ sang, là một lộ trình khác hẳn: Điều 9, nhập tịch vì lợi ích nhà nước, sửa lớn bằng Luật số 77/2023 ngày 02/05/2024 rồi Luật số 49/2026 ngày 08/05/2026.
Người nước ngoài được nhập tịch ngoài các điều kiện của Điều 8 về độ tuổi, kiến thức ngôn ngữ và lịch sử, cùng thời hạn cư trú hợp pháp, khi nhà nước Albania có lợi ích nhà nước đặc biệt trong việc tạo một mối liên hệ bền vững với người ấy.
Lợi ích ấy phải xuất phát từ những phẩm chất, năng lực và hoàn cảnh cụ thể hữu ích của cá nhân hoặc của hoạt động của người ấy, tư hay công.
Đó là một khuôn rộng, nhưng thủ tục thì hẹp và có bốn chốt. Chốt một, khoản 1/1: Lợi ích nhà nước đặc biệt phải được bộ trưởng phụ trách lĩnh vực liên quan xác định, ủng hộ và bảo đảm trước Tổng thống, và luật nói thẳng rằng không nhận đơn nào thiếu tài liệu bảo đảm ấy.
Chốt hai, khoản 2: Điều kiện, tiêu chí, hoàn cảnh, cách chứng minh lợi ích nhà nước và các quy tắc thẩm tra an ninh do Hội đồng Bộ trưởng quyết định, và chính quyết định ấy lập ra một cơ quan nhà nước chuyên trách trực thuộc bộ trưởng nội vụ để xem xét, xác minh và đánh giá.
Chốt ba, khoản 2/1: Hồ sơ được đánh giá là hợp pháp thì bộ trưởng nội vụ chuyển lên Tổng thống kèm đề nghị trao quốc tịch.
Chốt bốn, và đây là chỗ đắt nhất cho người đi cùng gia đình: Khoản 3 quy định việc nhập tịch của thành viên gia đình người được nhập tịch theo điều này, nếu có yêu cầu, phải chịu đủ các điều kiện và yêu cầu của Điều 8.
Tức người thân không thừa hưởng miễn trừ, mà vẫn phải đủ tuổi, đủ tiếng Albania, đủ kiến thức lịch sử và đủ thời gian cư trú hợp pháp.
Thời gian xử lý công bố
Luật đặt thời hạn cho chính nhà nước ở bốn chặng, và đó là điều hiếm trong bộ dữ liệu này — phần lớn các diện chỉ bấm giờ người nộp.
Chặng một, Điều 18 khoản 1: Sau khi hồ sơ nộp trong nước, cơ cấu địa phương của cảnh sát nhà nước thực hiện các phép xác minh cần thiết để đánh giá nguy cơ với an ninh công cộng, và trong một tháng kể từ ngày nộp phải chuyển hồ sơ cùng tài liệu kèm theo sang cơ cấu phụ trách vấn đề quốc tịch tại bộ.
Chặng hai, khoản 2, dành cho hồ sơ nộp ở nước ngoài: Cơ quan đại diện ngoại giao hoặc lãnh sự chuyển sang bộ ngoại giao, và bộ ấy trong mười lăm ngày phải chuyển tiếp cho cơ cấu phụ trách tại bộ.
Chặng ba, khoản 4, là chặng xử lý hồ sơ thiếu: Nếu tài liệu không đầy đủ thì bộ trong bốn mươi lăm ngày trả lại cho các cơ cấu và cơ quan nêu trên, và các nơi ấy phải thông báo cho đương sự trong mười lăm ngày.
Chặng bốn, và là chặng cuối, Điều 20 khoản 1: Tổng thống nước cộng hoà trong sáu mươi ngày kể từ khi nhận đề nghị của bộ phải ban hành sắc lệnh tương ứng và thông báo cho người đã nộp đơn.
Cùng khoản ấy còn một mốc nữa cho hồ sơ không đầy đủ: Trả về cho cơ cấu phụ trách tại Bộ Nội vụ trong ba mươi ngày kể từ ngày nộp. Nếu bị từ chối, quyết định là một hành vi hành chính và đương sự được khởi kiện tại Toà Hành chính Sơ thẩm Tirana.
Yêu cầu cư trú thực tế
Luật đòi hai thứ cùng lúc, không phải một: Điều 8 khoản 1 điểm c buộc đương đơn vừa cư trú hợp pháp và đã sống liên tục không dưới bảy năm trên lãnh thổ Albania, vừa đã có giấy phép cư trú vĩnh viễn còn hiệu lực đúng vào thời điểm nộp đơn, theo luật về người nước ngoài.
Bảy năm mà không có giấy phép vĩnh viễn còn hiệu lực là không đủ, và giấy phép vĩnh viễn mà chưa đủ bảy năm cũng không đủ. Hai nhóm được giảm hoặc miễn, và mức khác nhau.
Nhóm thứ nhất, Điều 8 khoản 4: Người nước ngoài là con chưa thành niên của một người có quốc tịch Albania được nộp đơn dù không thoả điểm c về cư trú lẫn điểm e về tiếng Albania và kiến thức lịch sử, miễn là đã cư trú hợp pháp và liên tục tại Albania ít nhất ba năm — tức giảm từ bảy xuống ba, chứ không phải bỏ hẳn.
Nhóm thứ hai, Điều 9: Người được nhập tịch vì lợi ích nhà nước được miễn hẳn thời hạn cư trú hợp pháp, cùng với điều kiện tuổi và điều kiện ngôn ngữ, lịch sử.
Còn người không quốc tịch thì theo khoản 2 chỉ phải thoả ba điểm là c, dh và ë — tức vẫn giữ nguyên yêu cầu bảy năm ở điểm c, chỉ được bỏ các điều kiện về nhà ở, thu nhập và ngôn ngữ.
Người phụ thuộc được kèm
Người thân của người được nhập tịch theo diện này không được miễn bất kỳ điều kiện nào, và đó là câu chữ của chính đạo luật.
Điều 9 khoản 3 Luật 113 năm 2020, bản hợp nhất tới 08/06/2026, quy định rằng việc nhập tịch cho các thành viên gia đình của người được nhập tịch theo điều này, nếu có yêu cầu, phải chịu đúng các điều kiện và yêu cầu của Điều 8.
Tức điều kiện nhập tịch thông thường gồm thời hạn cư trú hợp pháp, trình độ tiếng Albania, hiểu biết lịch sử và nguồn thu nhập.
Nói cách khác, ưu đãi của Điều 9 chỉ dành cho đúng một người. Điều 9 khoản 3/1 thêm một điều kiện cho trẻ em: Người nước ngoài chưa đủ 18 tuổi chỉ được nhận quốc tịch khi có đồng thuận của cả hai cha mẹ hoặc người giám hộ hợp pháp, và của chính đứa trẻ nếu trong độ tuổi 14 đến 18.
Không có cha mẹ, ông bà hay anh chị em đi kèm, và đạo luật không nêu bất kỳ con số tiền nào.
Hai điều lớn hơn ô này phải nói rõ.
Toàn văn đạo luật không nhắc tới việc đầu tư. Vì vậy Albania không có nhập tịch theo đầu tư mà chỉ có nhập tịch vì lợi ích nhà nước theo Điều 9, do bộ trưởng phụ trách lĩnh vực nhận diện và bảo lãnh trước Tổng thống.
Điều 9 khoản 2 giao thủ tục cùng tiêu chí cho quyết định của Hội đồng Bộ trưởng, văn bản chưa đối chiếu được toàn văn tại nguồn gốc, nên nếu có khoản tiền nào thì nó nằm ở đó chứ không nằm trong luật.
Số nước miễn thị thực
Người được cấp quốc tịch theo chương trình này nhận hộ chiếu Albania, nên con số của ô này là con số của chính hộ chiếu ấy.
Theo Passport Index của Prosperous Intelligence, dữ liệu ngày 30/09/2026, hộ chiếu Albania tới được 121 điểm đến mà không cần xin thị thực lãnh sự trước. Con số ấy gộp ba hình thức nhập cảnh và không tính thị thực điện tử phải xin trước:
| Hình thức nhập cảnh | Số điểm đến |
|---|---|
| Miễn thị thực | 94 |
| Thị thực cấp tại cửa khẩu | 22 |
| Giấy phép du lịch điện tử (eTA) | 5 |
| Cộng, là con số của Passport Index | 121 |
| Thị thực điện tử phải xin trước, không cộng | 56 |
Vì vậy đây là thước đo mức đi lại thuận tiện, không phải số nước miễn thị thực theo nghĩa hẹp.
Để đối chiếu, cùng nguồn và cùng cách đếm, hộ chiếu Việt Nam tới được 44 điểm đến. Hai danh sách điểm đến không lồng vào nhau, nên hiệu số chỉ là chỉ dấu chứ không phải danh sách những nơi được mở thêm.
Prosperous Intelligence ghi ngày cho dữ liệu và khuyến nghị xác minh với cơ quan chính thức của nước đến trước khi đi.
Nghĩa vụ thuế phát sinh
Chương trình không tồn tại như một chế độ riêng, nên không có chế độ thuế riêng để mô tả. Luật Quốc tịch 113 năm 2020, bản hợp nhất tới 08/06/2026, không có điều khoản nào về đầu tư.
Sổ đăng ký công báo quốc gia các năm 2020 đến 2026 cho thấy Điều 9 chỉ được thi hành bằng sáu quyết định của Hội đồng Bộ trưởng và mười văn bản hướng dẫn của Bộ Nội vụ, và các lĩnh vực được liệt kê là lợi ích quốc gia, giáo dục, khoa học, nghệ thuật, văn hoá và thể thao.
Không văn bản nào lập ra một diện kinh tế hay đầu tư.
Bản khung hiện hành là Quyết định 135 ngày 06/03/2024 sửa bởi Quyết định 198 ngày 04/04/2025, và văn bản ấy không nhắc tới đầu tư, tài khoá hay kinh doanh.
Tầng hai là phép ghép chứ không phải chữ của luật quốc tịch: Điều 8 Luật Thuế thu nhập 29 năm 2023, bản hợp nhất tới 16/01/2026, xác định cư trú thuế bằng năm tiêu chí gồm nơi ở ổn định trong năm tính thuế, có mặt từ 183 ngày trở lên, nơi hành nghề hoặc nơi cư trú thường xuyên tại Albania, và trung tâm lợi ích sống còn.
Quốc tịch Albania tự nó không nằm trong phép thử, và lần duy nhất quốc tịch có hệ quả thuế thì chạy theo chiều ngược, buộc công dân Albania đang làm nhiệm vụ cho chính phủ Albania ở nước ngoài trở thành người cư trú thuế. Người cư trú chịu thuế trên thu nhập toàn cầu.
Chi phí bắt buộc ngoài khoản đầu tư
Luật không in một con số lệ phí nào, nhưng đặt một trần nguyên tắc mà rất ít nước viết thẳng vào luật quốc tịch:
Điều 17 khoản 3 quy định lệ phí cho yêu cầu xin, xin lại và từ bỏ quốc tịch Albania do một chỉ thị chung của bộ trưởng phụ trách và bộ trưởng phụ trách tài chính ấn định, và câu tiếp theo là câu quyết định: Trong mọi trường hợp, lệ phí không được vượt quá chi phí của dịch vụ.
Nghĩa là về mặt pháp lý, khoản thu này không được là một nguồn thu ngân sách — nó chỉ được bù đắp chi phí, và mọi lần điều chỉnh về sau đều bị ràng bởi trần ấy.
Đây là điểm phân biệt rõ diện của Albania với các chương trình quốc tịch theo đầu tư, nơi khoản đóng góp chính là mục đích. Về cách nộp, Điều 17 khoản 1 buộc mọi yêu cầu xin, xin lại hoặc từ bỏ quốc tịch cùng toàn bộ tài liệu phải nộp trực tuyến qua nền tảng điện tử e-Albania — không có đường nộp giấy song song.
Còn danh mục tài liệu, mẫu biểu và cách điền thì do một chỉ thị chung khác của bộ trưởng phụ trách trật tự và an ninh công cộng cùng bộ trưởng ngoại giao phê duyệt, nên chi phí thực tế của bộ hồ sơ nằm ngoài luật này.
Lựa chọn đầu tư
| Lựa chọn | Ngưỡng | Loại hình | Trạng thái |
|---|---|---|---|
| Thu nhập hợp pháp tương ứng chuẩn sống tối thiểu, điều chỉnh hằng năm | xem điều kiện | Khác | Đề xuất |