Nhập quốc tịch Albania: Luật số 49/2026 giao Hội đồng Bộ trưởng quy định điều kiện theo Điều 9

Qua 2 lượt tra cứu cụm từ trong chỉ mục công báo ngày 21/9/2026, quyết định quy định điều kiện không được tìm thấy; kết quả này không xác lập rằng quyết định không tồn tại.
Luật Albania quy định người nước ngoài có thể được nhập quốc tịch mà không phải đáp ứng các điều kiện thông thường về độ tuổi, ngôn ngữ, kiến thức lịch sử và thời gian cư trú nếu nhà nước có lợi ích đặc biệt đối với người đó. Điều luật trao thẩm quyền này được sửa đổi vào tháng 5/2026. Văn bản sửa đổi quy định rằng các điều kiện, tiêu chí, quy tắc thẩm tra và cơ quan đánh giá hồ sơ do Hội đồng Bộ trưởng xác định bằng quyết định. Tuy nhiên, 2 lượt tra cứu cụm từ trong chỉ mục công báo ngày 21/9/2026 không tìm thấy quyết định với những nội dung đó.
Điều 9 hiện quy định những gì
Luật quốc tịch số 113/2020 quy định việc nhập quốc tịch theo diện thông thường tại Điều 8 và theo diện vì lợi ích nhà nước tại Điều 9. Văn bản hợp nhất do Trung tâm Xuất bản Chính thức công bố ghi nhận Điều 9 đã được sửa đổi 2 lần, theo Luật số 77/2023 ngày 2/5/2024 và Luật số 49/2026 ngày 8/5/2026.
Đợt sửa đổi năm 2026 thay đổi đáng kể nội dung điều luật. Theo ghi chú trong văn bản hợp nhất, lần sửa đổi này thay tên điều luật, sửa các khoản 1, 2 và 3, thay đổi cách đánh số và bổ sung 2 khoản. Tên hiện tại là “Natyralizimi për interes shtetëror”, nghĩa là nhập quốc tịch vì lợi ích nhà nước.
Khoản 1 quy định người nước ngoài được nhập quốc tịch Albania mà không phải đáp ứng các điều kiện tại Điều 8 về độ tuổi, ngôn ngữ, kiến thức lịch sử và thời gian cư trú hợp pháp nếu nhà nước Albania có lợi ích đặc biệt trong việc thiết lập mối gắn kết ổn định với người đó. Lợi ích này xuất phát từ phẩm chất, năng lực và những hoàn cảnh cụ thể mang lại lợi ích, gắn với cá nhân hoặc hoạt động của họ trong lĩnh vực tư hay công.
Việc miễn các điều kiện chỉ áp dụng cho cá nhân. Theo khoản 3, nếu thành viên gia đình của người được nhập quốc tịch theo Điều 9 cũng có yêu cầu nhập quốc tịch, họ phải đáp ứng các điều kiện và yêu cầu của Điều 8. Khoản 3/1 quy định người nước ngoài dưới 18 tuổi chỉ được nhập quốc tịch theo khoản 1 khi có sự đồng ý của cả cha và mẹ hoặc người giám hộ hợp pháp; nếu người đó từ 14 đến 18 tuổi thì còn cần sự đồng ý của chính họ. Điều 9 không có quy định nào mở rộng việc miễn các điều kiện của Điều 8 cho cả hộ gia đình.
Khoản 1 cũng như toàn bộ Điều 9 đều không nêu số tiền nào.
Hồ sơ phải có sự ủng hộ và bảo đảm của bộ trưởng
Khoản 1/1, một trong 2 khoản được bổ sung năm 2026, giao bộ trưởng phụ trách lĩnh vực liên quan xác định, ủng hộ và bảo đảm trước Tổng thống về lợi ích đặc biệt của nhà nước. Khoản này đồng thời quy định hồ sơ theo Điều 9 không được tiếp nhận nếu thiếu tài liệu thể hiện sự ủng hộ và bảo đảm của các cơ quan có thẩm quyền đó.
Đây là điều kiện cần, tức là điều kiện bắt buộc phải có, nhưng văn bản không quy định chỉ cần đáp ứng điều kiện này là đủ. Không có nội dung nào nói rằng hồ sơ có các tài liệu đó bắt buộc phải được tiếp nhận hoặc sẽ được chấp thuận.
Khoản 2/1, phần bổ sung còn lại, quy định về giai đoạn cuối của quy trình. Bộ trưởng phụ trách nội vụ chuyển những yêu cầu được đánh giá là hợp pháp lên Tổng thống, kèm đề xuất cấp quốc tịch.
Khoản 4 quy định không áp dụng Điều 17 và Điều 18 của cùng luật, vốn điều chỉnh việc nộp và xem xét hồ sơ. Bài viết chưa xác định liệu 2 điều này có bao quát toàn bộ thủ tục thông thường của luật hay không.
Luật giao Hội đồng Bộ trưởng quy định điều kiện
Khoản 2, được viết lại năm 2026, giao Hội đồng Bộ trưởng quy định những nội dung chủ yếu bằng một quyết định. Theo khoản này, Hội đồng Bộ trưởng dùng quyết định để quy định thủ tục nộp hồ sơ và sự phối hợp giữa các cơ quan, các điều kiện, tiêu chí, hoàn cảnh, tài liệu và việc xác minh lợi ích nhà nước. Phạm vi nội dung mà khoản này giao Hội đồng Bộ trưởng quy định còn bao gồm các quy tắc cụ thể về thẩm tra an ninh và tính liêm chính, tức việc kiểm tra các yếu tố an ninh cùng sự trung thực, ngay thẳng.
Khoản 2 cũng giao Hội đồng Bộ trưởng dùng quyết định đó để thành lập một cơ quan nhà nước chuyên trách trực thuộc bộ trưởng phụ trách nội vụ. Theo quy định của khoản này, cơ quan chuyên trách có thẩm quyền xem xét, xác minh và đánh giá hồ sơ cùng những hoàn cảnh tạo nên lợi ích nhà nước.
Ngày 21/9/2026, một lượt tìm kiếm toàn văn trong chỉ mục công báo, tức hệ thống lập chỉ mục văn bản để tra cứu, trả về 5 tài liệu với cụm từ “natyralizimi për interes shtetëror”. Cả 5 đều là các văn bản luật liên quan hoặc bản công bố của chúng. Văn bản hợp nhất xuất hiện ở 2 định dạng, luật sửa đổi có 2 bản ghi, và tài liệu còn lại là số công báo đăng luật sửa đổi. Trong 5 kết quả này, không tài liệu nào là quyết định của Hội đồng Bộ trưởng. Lượt tìm kiếm kết hợp “interes të posaçëm shtetëror” (lợi ích đặc biệt của nhà nước) với “shtetësi” (quốc tịch) trả về 2 tài liệu, đều là văn bản hợp nhất.
Chỉ mục được sử dụng có chứa quyết định của chính phủ và văn bản năm 2026. Truy vấn về quyết định của Hội đồng Bộ trưởng trả về hơn 11.000 tài liệu, trong đó có một quyết định được thông qua ngày 3/9/2026. Truy vấn “49/2026” trả về luật sửa đổi và sắc lệnh công bố luật. Tuy vậy, các kết quả này không chứng minh chỉ mục đã đầy đủ. Một chỉ mục đang hoạt động vẫn có thể thiếu văn bản, chậm cập nhật hoặc chứa nội dung mà cách tìm theo cụm từ không truy xuất được.
Các lượt tra cứu chỉ xác lập rằng quyết định không được tìm thấy bằng những cụm từ đó vào ngày 21/9/2026. Quyết định có thể tồn tại với cách diễn đạt nằm ngoài phạm vi truy vấn, hoặc có thể chưa được công bố. Kết quả “không tìm thấy” có phạm vi hẹp hơn kết luận “không tồn tại”; bài viết không đưa ra kết luận thứ hai. Bài viết cũng chưa xác định nội dung của quyết định như vậy, nếu có.
Các mốc thời gian và cách tính ngày hiệu lực
Luật số 49/2026 được thông qua ngày 8/5/2026 và được Tổng thống Bajram Begaj công bố bằng Sắc lệnh số 333 ngày 1/6/2026. Bản ghi công báo ghi ngày đăng luật trong công báo Fletorja Zyrtare số 116 là 5/6/2026. Điều 4 quy định luật có hiệu lực sau 15 ngày kể từ khi đăng công báo. Nếu lấy ngày đăng theo bản ghi này làm mốc và tính 15 ngày theo lịch, ngày hiệu lực được tính ra là 20/6/2026.
Mốc 20/6/2026 là kết quả tính toán, không phải ngày được trích trực tiếp từ văn bản. Cách tính phụ thuộc vào 2 giả định. Ngày đăng trong bản ghi công báo phải chính là ngày luật dùng để tính thời hạn, và 15 ngày phải được hiểu là 15 ngày theo lịch. Bài viết chưa kiểm chứng 2 giả định này bằng nguồn riêng.
Luật sửa đổi ghi nhận văn bản được trình Quốc hội “me propozimin e një deputeti”, nghĩa là theo đề xuất của một nghị sĩ.
Những điều bài viết chưa xác lập
Bài viết chưa xác lập rằng Điều 9 là một chương trình, hoặc diện nhập quốc tịch theo điều này hiện đang tiếp nhận hồ sơ. Điều luật trao quyền quyết định theo cân nhắc của Tổng thống trên cơ sở đề xuất của bộ trưởng và không nêu bất kỳ số tiền nào.
Bài viết chưa xác định có bao nhiêu người đã được nhập quốc tịch theo Điều 9.
Bài viết chưa xác lập bất kỳ mối liên hệ nào giữa Điều 9 và phán quyết ngày 29/4/2025 của Tòa án Công lý Liên minh châu Âu. Albania chưa phải là thành viên Liên minh châu Âu mà đang là nước ứng viên gia nhập. Bài viết không sử dụng tài liệu nào xem xét liệu tư cách ứng viên có ảnh hưởng đến quy định này hay không.
Bài viết không đề cập thay đổi còn lại trong Luật số 49/2026. Luật này bãi bỏ khoản 3 Điều 8 và bổ sung Điều 8/a về quốc tịch thông qua hôn nhân. Đây là một chủ đề riêng.
The Legation Times biên soạn nội dung từ tài liệu đã công bố; nội dung tại đây không phải tư vấn pháp lý, tư vấn thuế hay khuyến nghị đầu tư. Trường hợp quý độc giả phát hiện ra sai sót, kính mời quý độc giả gửi yêu cầu đính chính. Với trường hợp liên quan đến quyền sử dụng nội dung, hãy thực hiện gửi yêu cầu gỡ bỏ.