31/10/2026 · Việt Nam EN

Citizenship · Capital · Global Mobility

The Legation Times

Long-stay Visa for Digital Nomads

Thị thực du mục số Romania

Đang mở đối chiếu 16/10/2026 · mae.ro

Romania cấp thị thực lưu trú dài hạn và quyền cư trú tạm thời cho người du mục số có thu nhập từ hoạt động làm việc từ xa tối thiểu ba lần thu nhập tiền lương bình quân gộp hằng tháng của Romania, đạt cho từng tháng trong sáu tháng trước ngày nộp và suốt thời hạn thị thực. Diện này dựa trên Pháp lệnh khẩn cấp số 194/2002: Thị thực dài hạn có hạn 90 ngày, giấy phép cư trú đầu tiên, tức lần gia hạn đầu, chỉ cho sáu tháng, và các lần gia hạn sau tối đa một năm; theo Prosperous Intelligence, hộ chiếu Romania, cấp cho công dân chứ không cho người giữ diện này, tới được 191 điểm đến không cần xin thị thực lãnh sự trước.

Tổng quan chương trình

  • Tên chính thức chương trình: Long-stay Visa for Digital Nomads
  • Website: mae.ro
  • Cơ quan quản lý: Ministerul Afacerilor Externe

Ngưỡng vốn tối thiểu

Ngưỡng không phải một con số cố định mà là một bội số thả nổi, và nó phải chứng minh ở hai khung thời gian cùng lúc.

Điều 49 khoản 1 điểm f¹ Pháp lệnh khẩn cấp số 194/2002, phần bổ sung bằng Luật số 22 ngày 14/01/2022, buộc đương đơn phải có phương tiện sinh sống thu được từ chính hoạt động ấy ở mức tối thiểu ba lần thu nhập tiền lương bình quân gộp hằng tháng của Romania.

Mức ấy phải đạt cho từng tháng trong sáu tháng liền trước ngày nộp hồ sơ xin thị thực, đồng thời cho toàn bộ thời hạn ghi trong thị thực.

Hai vế ấy nối bằng chữ “và” chứ không phải “hoặc”, nên một tháng hụt trong sáu tháng là hỏng, và một mức thu nhập đủ ở quá khứ nhưng không duy trì được cũng hỏng. Ba điểm về chính con số.

Thứ nhất, mốc quy chiếu là thu nhập bình quân của Romania, nên ngưỡng tự trượt theo kinh tế Romania chứ không theo nước người nộp.

Thứ hai, cách gọi mốc ấy đã đổi: Pháp lệnh số 25 ngày 26/08/2014 thay cụm “lương bình quân gộp của nền kinh tế” bằng cụm “thu nhập tiền lương bình quân gộp” trên toàn bộ văn bản, nên tra theo cụm cũ sẽ không ra.

Thứ ba, điều luật đòi tiền phải đến từ hoạt động từ xa ấy, không phải từ tiết kiệm hay nguồn khác — đây là điều kiện về nguồn của tiền, không chỉ về lượng.

Kết quả pháp lý

Kết quả đi qua hai văn bản khác nhau, và đó là chỗ dễ đọc sót. Thứ nhất là một thị thực dài hạn thuộc nhóm “mục đích khác”: Điều 49 khoản 1 điểm f¹ đặt du mục số cạnh các nhóm như người điều trị y tế dài ngày, tức luật không dựng một loại thị thực riêng mang tên họ mà xếp họ vào một nhóm sẵn có.

Thứ hai là giấy phép cư trú tạm thời, và ở đây luật mới cho họ một dấu hiệu riêng: Điều 107 khoản 2⁵ quy định trong giấy phép cư trú tạm thời cấp cho du mục số phải ghi chú thích “nomad digital”.

Điều kiện gia hạn nằm ở Điều 69 khoản 1 điểm i, và nó chia đương đơn thành hai hạng với gánh nặng không cân nhau. Người làm thuê chỉ cần nộp bản gốc hợp đồng lao động ký với một công ty đăng ký ngoài Romania, kèm bản dịch công chứng sang tiếng Romania, chứng minh việc cung cấp dịch vụ từ xa.

Người chủ công ty thì phải chứng minh đã sở hữu công ty ấy tối thiểu ba năm trước ngày xin thị thực, và công ty phải đăng ký ngoài Romania, do chính người ấy điều hành từ xa.

Ba năm là một rào cản mà người làm thuê không gặp. Cả hai hạng còn phải nộp thêm một văn bản gốc do chính công ty cấp, cũng kèm bản dịch công chứng, nêu đủ dữ liệu định danh và liên hệ của công ty, lĩnh vực hoạt động, tư cách của đương đơn trong công ty, và thông tin về người đại diện theo pháp luật.

Thời gian xử lý công bố

Pháp lệnh không đặt thời hạn nào cho cơ quan, nhưng nó đặt ba mốc cứng lên người nộp, và mốc thứ hai ngắn hơn nhiều so với hình dung thông thường về một diện du mục số.

Mốc thứ nhất nằm ở Điều 51 khoản 1: Đơn xin gia hạn quyền cư trú tạm thời phải nộp đích thân, tối thiểu ba mươi ngày trước khi hết thời hạn đã được duyệt, tại đơn vị địa phương của cơ quan nhập cư ở nơi cư trú.

Ba chữ đích thân, ba mươi ngày và đúng nơi cư trú đều là điều kiện, không phải khuyến nghị.

Mốc thứ hai là phần đáng chú ý nhất: Điều 69 khoản 7 quy định lần gia hạn đầu tiên của người du mục số được cấp cho sáu tháng. Không phải một năm, và không phải theo thời hạn hợp đồng lao động — sáu tháng. Lần gia hạn đầu này đến ngay sau thị thực dài hạn, mà Điều 24 khoản 1 cho thời hạn chỉ 90 ngày, và Tổng Thanh tra Nhập cư gọi nó là việc cấp giấy phép cư trú; vì vậy chu kỳ đầu tiên là 90 ngày cộng sáu tháng.

Các lần gia hạn sau có thể được cấp nếu người nước ngoài vẫn tiếp tục đáp ứng các điều kiện ở khoản 3 và xuất trình một giấy chứng nhận thu nhập do cơ quan thuế có thẩm quyền cấp.

Hai chữ có thể ở đây là quyền xét đoán, không phải nghĩa vụ cấp. Khi được cấp, mỗi lần gia hạn sau tối đa một năm theo Điều 50 khoản 2.

Mốc thứ ba đứng trước cả hai mốc kia và nằm ở tầng thị thực: Điều 29 khoản 4 cho biết đơn xin thị thực không được chấp nhận khi người nộp không xuất trình mẫu đơn đã điền và ký cùng hai ảnh đúng chuẩn, và khi lệ phí thị thực chưa được nộp — nghĩa là hồ sơ chưa trả phí thì chưa tồn tại, chứ không phải bị từ chối sau khi xét.

Pháp lệnh khẩn cấp số 32/2026, có hiệu lực từ 27/04/2026, thêm hai ràng buộc ở cùng tầng ấy: Theo Điều 29 khoản 4 điểm a, đơn nộp sớm hơn ba tháng trước ngày dự kiến đến Romania cũng không được tiếp nhận; và theo Điều 29 khoản 5¹, người xin thị thực dài hạn được lấy dữ liệu sinh trắc học, gồm ảnh khuôn mặt và dấu vân tay mười ngón, ngoài nghĩa vụ có mặt trực tiếp đã có ở khoản 5.

Một lưu ý về bản văn dùng ở đây: Đây là bản hợp nhất có hiệu lực từ 27/04/2026 đến 30/04/2026, của một pháp lệnh được đăng lại trên Công báo số 421 ngày 05/06/2008, và lần sửa gần nhất là Pháp lệnh khẩn cấp số 32 ngày 23/04/2026.

Yêu cầu cư trú thực tế

Cư trú ở diện này không đo bằng một ngưỡng số ngày có mặt mà bằng những lần gia hạn kèm chứng minh thu nhập lặp lại, và đó là điểm khác biệt lớn nhất so với các diện du mục số khác trong bảng. Thị thực dài hạn chỉ có hạn 90 ngày theo Điều 24 khoản 1; giấy phép cư trú đầu tiên, mà Tổng Thanh tra Nhập cư gọi là lần gia hạn đầu, có hạn sáu tháng; các lần gia hạn sau, theo Điều 50 khoản 2, mỗi lần tối đa một năm.

Không có ngưỡng ngày không có nghĩa là không có nghĩa vụ hiện diện: Điều 50 khoản 2 điểm f buộc người xin gia hạn chứng minh quyền sử dụng hợp pháp chỗ ở và ở thật tại địa chỉ đã khai báo là nơi cư trú tại Romania.

Điều 69 khoản 7: Lần gia hạn quyền cư trú tạm thời đầu tiên cho người du mục số được cấp cho sáu tháng; các lần sau có thể được cấp nếu người ấy vẫn đáp ứng các điều kiện ở khoản 3 và nộp một giấy chứng nhận thu nhập do cơ quan thuế có thẩm quyền cấp.

Khoản 3 chính là ngưỡng phải giữ liên tục: Người thuộc điểm i phải chứng minh thu nhập tối thiểu bằng ba lần mức thu nhập bình quân tháng trước thuế, cho đúng khoảng thời gian xin gia hạn — nên đây không phải một phép thử một lần lúc nhập cảnh mà là một nghĩa vụ chạy suốt.

Giấy tờ phải giữ cũng được nêu đích danh ở Điều 69 khoản 1 điểm i, và cả hai đều phải là bản gốc kèm bản dịch có chứng thực sang tiếng Romania:

Hợp đồng lao động với một công ty đăng ký ngoài Romania chứng minh việc cung cấp dịch vụ từ xa, hoặc bằng chứng đã sở hữu tối thiểu ba năm trước ngày xin thị thực một công ty đăng ký ngoài Romania mà người ấy điều hành từ xa.

Cộng một văn bản do chính công ty ấy cấp, ghi dữ liệu định danh, thông tin liên hệ và lĩnh vực hoạt động của công ty, tư cách của người nước ngoài trong công ty, cùng thông tin về những người đại diện theo pháp luật.

Thẻ cư trú mang dấu vết riêng: Điều 107 khoản 2 mục 5 buộc ghi vào giấy phép cư trú tạm thời cấp cho người du mục số dòng chữ nomad digital.

Và một dữ kiện tích cực mà văn bản cho thấy, chứ không phải suy đoán: Điều 70 cho quyền cư trú dài hạn, cấp theo đơn và cho thời hạn không xác định, cho người đang giữ quyền cư trú tạm thời tại thời điểm hồ sơ được giải quyết.

Khoản 2 liệt kê sáu nhóm không được cấp — du học, bảo hộ tạm thời, bảo hộ khác, xin bảo hộ quốc tế, người giữ quyền cư trú theo thị thực ngắn hạn hoặc thị thực ngoại giao, và lao động thời vụ hoặc au pair — và người du mục số không nằm trong sáu nhóm ấy.

Muốn được cấp theo Điều 71 khoản 1 điểm a, người nước ngoài phải có quyền cư trú tạm thời liên tục trong năm năm trước khi nộp đơn, và trong thời gian ấy không vắng mặt khỏi Romania quá sáu tháng liên tục và tổng cộng không quá mười tháng.

Người phụ thuộc được kèm

Diện này không có lộ trình đưa gia đình, và kết luận ấy là phép ghép ba điều luật chứ không phải câu của một điều.

Bốn điều khoản lập ra và điều chỉnh diện du mục số, gồm Điều 2 điểm n chỉ số bốn, Điều 49 khoản 1 điểm f chỉ số một cùng khoản 2 chỉ số một, Điều 69 khoản 1 điểm i và Điều 107 khoản 2 chỉ số năm, đều không nhắc tới vợ chồng, con, cha mẹ hay người đi kèm.

Trong khi đó, ngay trong cùng điều luật, Điều 49 khoản 1 điểm f, tức diện điều trị y tế, ghi rõ rằng thị thực có thể được cấp cho một người đi kèm.

Luật biết cách viết vế người đi kèm, và ở diện du mục số nó không viết.

Lộ trình duy nhất để đưa gia đình là Điều 46 về thị thực dài hạn vì đoàn tụ gia đình, nhưng nó đòi người bảo lãnh phải giữ giấy phép cư trú tạm thời có hiệu lực một năm, hoặc Thẻ xanh Liên minh châu Âu, hoặc giấy phép chuyển giao nội bộ doanh nghiệp, hoặc giấy phép cư trú dài hạn, hoặc là người được công nhận tị nạn hay bảo hộ bổ sung.

Mà Điều 69 khoản 7 cho du mục số lần gia hạn đầu đúng sáu tháng, không phải một năm, và khoản 6 của Điều 46, tức điều khoản miễn yêu cầu một năm, chỉ liệt kê nhà nghiên cứu khoa học, Thẻ xanh, chuyển giao nội bộ doanh nghiệp và di động nội bộ.

Nếu và khi đủ tư cách bảo lãnh, Điều 46 khoản 1 cho vợ chồng và con chưa thành niên chưa kết hôn, kể cả con nuôi và con riêng của mỗi bên với sự đồng thuận của người đồng giữ quyền làm cha mẹ.

Khoản 2 cho cơ quan quyền cân nhắc, không đương nhiên, đối với người thân bậc một hàng trên, tức chỉ cha mẹ chứ không có ông bà, nếu họ không tự nuôi được mình và không có chỗ dựa gia đình thoả đáng ở nước gốc, và đối với con đã thành niên chưa kết hôn nếu không tự nuôi được vì lý do y tế.

Không công nhận bạn đời chưa kết hôn. Ngưỡng tiền tăng thêm theo đầu người là có thật: Người bảo lãnh phải có phương tiện sinh sống ngoài phần cho chính mình, ở mức bằng lương tối thiểu cơ bản tháng toàn quốc cho mỗi thành viên gia đình, đủ ba tháng, kèm chứng minh chỗ ở và bảo hiểm y tế xã hội.

Số nước miễn thị thực

Tư cách mà chương trình này cấp, dù là thị thực hay thẻ cư trú, không thay hộ chiếu của người giữ. Người giữ vẫn đi lại bằng hộ chiếu của nước mình, nên con số dưới đây là của hộ chiếu Romania và chỉ trở thành của người giữ khi họ được cấp hộ chiếu Romania.

Theo Passport Index của Prosperous Intelligence, dữ liệu ngày 30/09/2026, hộ chiếu Romania tới được 191 điểm đến mà không cần xin thị thực lãnh sự trước. Con số ấy gộp ba hình thức nhập cảnh và không tính thị thực điện tử phải xin trước:

Hình thức nhập cảnhSố điểm đến
Miễn thị thực159
Thị thực cấp tại cửa khẩu23
Giấy phép du lịch điện tử (eTA)9
Cộng, là con số của Passport Index191
Thị thực điện tử phải xin trước, không cộng34

Vì vậy đây là thước đo mức đi lại thuận tiện, không phải số nước miễn thị thực theo nghĩa hẹp.

Để đối chiếu, cùng nguồn và cùng cách đếm, hộ chiếu Việt Nam tới được 44 điểm đến. Hai danh sách điểm đến không lồng vào nhau, nên hiệu số chỉ là chỉ dấu chứ không phải danh sách những nơi được mở thêm.

Prosperous Intelligence ghi ngày cho dữ liệu và khuyến nghị xác minh với cơ quan chính thức của nước đến trước khi đi.

Nghĩa vụ thuế phát sinh

Toàn bộ nội dung thuế của tầng một nằm ở đúng một điểm, và nó đi ngược chiều giả định thông thường.

Điều 49 khoản 2 chỉ số một điểm d của Pháp lệnh khẩn cấp 194 năm 2002, bổ sung bởi Luật số 22 ngày 14/01/2022 đăng Công báo số 45 cùng ngày, đặt yêu cầu này.

Đương đơn phải nộp văn bản gốc đã apostille hoặc hợp pháp hoá, kèm bản dịch công chứng, do cơ quan chuyên trách của hành chính công trung ương hoặc địa phương nơi cư trú thuế của người ấy cấp.

Văn bản ấy chứng nhận rằng tại ngày xin thị thực, người lao động hoặc công ty họ sở hữu đã đóng đủ các khoản thuế, phí và đóng góp bắt buộc, và không bị ghi nhận các hành vi có hậu quả trốn thuế hay gian lận thuế.

Tức người xin nộp bằng chứng đã đóng thuế ở nơi khác cho cơ quan Romania, chứ không phát sinh nghĩa vụ kê khai với Romania; pháp lệnh chỉ nhắc tới cư trú thuế ở chính điều khoản ấy.

Điều 2 điểm n chỉ số bốn định nghĩa du mục số là người nước ngoài có hợp đồng lao động với một công ty đăng ký ngoài Romania và cung cấp dịch vụ qua công nghệ thông tin, hoặc sở hữu một công ty đăng ký ngoài Romania mà trong đó họ làm việc từ xa qua công nghệ thông tin; định nghĩa ấy không đặt điều kiện thời gian nào. Điều kiện ba năm nằm ở hai chỗ khác và được viết theo hai cách: Điều 49 khoản 2 chỉ số một điểm a, ở giai đoạn thị thực, đòi công ty đã được đương đơn đăng ký ít nhất ba năm tính tới ngày xin thị thực; Điều 69 khoản 1 điểm i mục (i), ở giai đoạn gia hạn, đòi đương đơn đã sở hữu công ty ít nhất ba năm trước ngày xin thị thực.

Điều 69 khoản 1 điểm i đặt hai điều kiện riêng cho việc gia hạn, lặp lại giấy tờ của giai đoạn xin thị thực, và khoản 3 đòi thu nhập tối thiểu gấp ba lần lương gộp bình quân tháng cho khoảng thời gian xin gia hạn; lần gia hạn đầu được cấp sáu tháng. Hai điều kiện riêng ấy không phải toàn bộ phép thử: Các điều kiện chung của Điều 50 khoản 2 vẫn áp dụng, trong đó có việc ở thật tại địa chỉ đã khai báo và bảo hiểm y tế, mà phải là bảo hiểm y tế xã hội, trừ lần gia hạn đầu được nộp một bảo hiểm phủ mọi rủi ro thường được phủ cho công dân Romania.

Từ các lần gia hạn sau lần đầu, Điều 69 khoản 7 còn đòi một giấy xác nhận thu nhập do cơ quan thuế có thẩm quyền cấp, tức một điều kiện gắn với cơ quan thuế dù không phải nghĩa vụ nộp thuế.

Nhưng văn bản không nói rõ cơ quan ấy của Romania hay của nước cư trú thuế.

Hai giới hạn: Pháp lệnh không dẫn chiếu Bộ luật Thuế và không đặt ngưỡng ngày hiện diện nào cho người du mục số, dù Điều 50 khoản 2 điểm f buộc người gia hạn phải ở thật tại địa chỉ đã khai báo và Điều 71 khoản 1 điểm a giới hạn số tháng vắng mặt của người xin cư trú dài hạn; nên luật nhập cư không nói diện này có tạo cư trú thuế hay không; và ô này không xét Bộ luật Thuế Romania, nên câu hỏi diện này có ưu đãi thuế riêng hay không vẫn để ngỏ.

Chi phí bắt buộc ngoài khoản đầu tư

Pháp lệnh gần như không nói về tiền: Bản hợp nhất chỉ nhắc tới khoản lệ phí phải nộp ở một điều khoản, còn biểu phí nằm ở phụ lục của Luật số 198/2008 về các dịch vụ lãnh sự thu phí và mức lệ phí lãnh sự.

Pháp lệnh khẩn cấp số 32 ngày 23/04/2026 đã sửa phụ lục ấy: Với hồ sơ thị thực dài hạn gửi qua cổng eViza từ 27/04/2026, lệ phí thị thực là 300 EUR; hồ sơ gửi trước ngày ấy chịu mức cũ 120 EUR. Trang của Tổng Thanh tra Nhập cư cho diện này cũng ghi lệ phí thị thực 300 EUR. Điều khoản duy nhất ấy lại rất quan trọng: Điều 29 khoản 4 điểm c cho biết đơn xin thị thực không được chấp nhận khi lệ phí thị thực chưa được nộp — tiền đi trước cả việc hồ sơ được coi là đã nộp.

Pháp lệnh có nói về miễn phí, nhưng hai lần miễn ấy đều không áp cho người du mục số, và đối chiếu ngược này là phần đáng ghi: Điều 69 khoản 4 miễn lệ phí lãnh sự cho người không quốc tịch gốc Romania, còn Điều 62 khoản 6 miễn lệ phí lãnh sự cho các nhóm nêu ở khoản 3 và khoản 3 mục 2 của chính điều ấy.

Ngoài biểu phí nhà nước, ba khoản chi bắt buộc nữa nằm rải trong chính văn và đều không có giá niêm yết. Thứ nhất, dịch thuật có chứng thực: Điều 69 khoản 1 điểm i đòi cả hai tài liệu — hợp đồng lao động hoặc bằng chứng sở hữu công ty, và văn bản do công ty cấp — phải là bản gốc kèm bản dịch có chứng thực sang tiếng Romania.

Thứ hai, giấy chứng nhận thu nhập của cơ quan thuế, mà theo Điều 69 khoản 7 là điều kiện của mọi lần gia hạn sau lần đầu, nên đây là chi phí lặp lại ở mỗi lần gia hạn sau lần đầu, mà mỗi lần ấy tối đa một năm theo Điều 50 khoản 2, chứ không phải chi phí một lần. Thứ ba, chi phí đi lại và có mặt: Điều 51 khoản 1 buộc nộp đơn gia hạn đích thân tại đơn vị địa phương ở nơi cư trú.

Lựa chọn đầu tư

Lựa chọn Ngưỡng Loại hình Trạng thái
Thu nhập hằng tháng, bằng ba lần lương gộp bình quân tại Romania, tính cho sáu tháng liền trước 3 lần lương bình quân/tháng Khác Đang mở

Bản tin hàng tuần

Bản tin về đầu tư quốc tịch, dòng vốn và dịch chuyển toàn cầu sẽ được gửi hàng tuần. Quý độc giả vui lòng để lại địa chỉ thư điện tử để nhận bản tin mới nhất.