31/10/2026 · Việt Nam EN

Citizenship · Capital · Global Mobility

The Legation Times

Remote Work Visitor Visa

Thị thực du mục số Nam Phi

Đang mở đối chiếu 18/09/2026 · www.dha.gov.za

Nam Phi cấp Remote Work Visitor Visa, một thị thực du khách theo Điều 11 Đạo luật Nhập cư, cho người làm việc cho chủ sử dụng lao động ở nước ngoài với lương gộp không thấp hơn 650.796 rand một năm, chứng minh bằng sao kê ngân hàng ba tháng. Thị thực có thời hạn không quá ba năm và không cho nhận việc làm tại Nam Phi; theo Prosperous Intelligence, hộ chiếu Nam Phi, cấp cho công dân chứ không cho người giữ thị thực này, tới được 86 điểm đến không cần xin thị thực lãnh sự trước.

Tổng quan chương trình

  • Tên chính thức chương trình: Remote Work Visitor Visa
  • Website: dha.gov.za
  • Cơ quan quản lý: Department of Home Affairs

Ngưỡng vốn tối thiểu

Có hai phép thử về tiền, và bản ghi cũ chỉ mang một. Phép thử thứ nhất là ngưỡng thu nhập trên bảng yêu cầu: Lương gộp không thấp hơn mức tương đương 650.796,00 rand một năm, tức đúng 54.233 rand một tháng vì 650.796 chia hết cho 12 ra con số ấy — một phép chia đáng làm, vì bảng chỉ nêu mức năm và người đọc dễ ước sai mức tháng.

Cách chứng minh là sao kê ngân hàng ba tháng, nên đây là chứng minh dòng thu nhập thực tế chứ không phải số dư tài khoản, và cũng không phải con số ghi trong hợp đồng.

Thêm một điều bảng để ngỏ: Ngưỡng được viết là mức tương đương 650.796 rand, nên rủi ro quy đổi thuộc về đương đơn, và bảng không ấn định tỷ giá cũng không ấn định ngày quy đổi. Phép thử thứ hai nằm ở tầng luật và Quy chế, và bảng yêu cầu không nhắc tới.

Đạo luật đặt ở Điều 11 khoản 1 điểm b một điều kiện về nguồn lực tài chính khả dụng, và nguyên văn điều khoản ấy nằm ở ô kết quả pháp lý của bảng này.

Quy chế 11 khoản 3 định nghĩa cách chứng minh nguồn lực ấy là một bản sao kê được ngân hàng chứng thực gần đây, cho ba tháng gần nhất. Đó chính là gốc của quy tắc ba tháng, và nó là một nghĩa vụ của Quy chế chứ không phải một lựa chọn của bảng yêu cầu.

Riêng cụm bằng chứng về phương tiện tài chính đủ dùng lại được Quy chế 1 định nghĩa riêng, với bốn hình thức được nhận:

Một bản sao kê ngân hàng ba tháng; tiền mặt khả dụng của đương đơn, với điều kiện số tiền không thấp hơn mức do Bộ trưởng ấn định hằng năm bằng thông báo trên Công báo; chi phiếu du lịch; hoặc một văn bản cam kết có sao kê ngân hàng kèm theo.

Nghĩa là có một con số thứ hai, được ấn định lại mỗi năm bằng một thông báo riêng trên Công báo, và muốn biết nó thì phải đọc thông báo của năm ấy chứ không phải bảng yêu cầu này.

Và Quy chế 11 khoản 1 điểm c đặt bằng chứng về phương tiện tài chính đủ dùng thành một phần bắt buộc của mọi hồ sơ xin thị thực du khách, không riêng diện này.

Kết quả pháp lý

Đọc Điều 11 Đạo luật Nhập cư thì thấy diện này không phải một loại thị thực mới, mà là một ô trống có sẵn được lấp.

Điều 11 khoản 1 cho phép cấp thị thực du khách vì bất kỳ mục đích nào khác những mục đích đã quy định ở các Điều 13 đến 24 — tức đây là một loại còn lại, không phải một loại được thiết kế riêng — với điều kiện đương đơn tuân thủ Điều 10A và cung cấp các bảo đảm tài chính hoặc bảo đảm khác được quy định cho việc rời khỏi nước này.

Điều khoản kèm theo cho hai độ dài khác nhau. Điểm a cho thời hạn không quá ba tháng, gia hạn thêm một lần không quá ba tháng nữa.

Điểm b cho thời hạn không quá ba năm, nhưng chỉ cho người thoả mãn Tổng cục trưởng rằng mình kiểm soát đủ nguồn lực tài chính khả dụng, và có thể được quy định.

Người ấy đồng thời phải đang thực hiện tại Nam Phi một trong bốn việc: Nghỉ phép học thuật, hoạt động thiện nguyện hoặc từ thiện, nghiên cứu, hoặc bất kỳ hoạt động nào khác được quy định.

Làm việc từ xa nằm ở việc thứ tư — cái ô mở — nên diện này được lập ra mà không cần một loại thị thực mới, và bạn cùng hàng của nó trong luật là nghỉ phép học thuật, làm từ thiện và nghiên cứu.

Cơ chế cho phép làm việc thì nằm ở khoản 2, và nó là một lệnh cấm kèm một ngoại lệ hẹp:

Người giữ thị thực du khách không được làm việc, với điều khoản trừ rằng người giữ thị thực cấp theo khoản 1 điểm a hoặc theo khoản 1 điểm b tiểu mục iv có thể được Tổng cục trưởng cho phép làm việc, theo cách thức được quy định và theo các yêu cầu, điều khoản và điều kiện được quy định.

Nghĩa là tiểu mục iv là một trong chỉ hai tiểu mục mà Đạo luật cho phép dỡ lệnh cấm ấy, và việc dỡ là quyền tuỳ nghi của cơ quan chứ không phải hệ quả tự động của việc được cấp thị thực.

Khoản 5 còn để ngỏ cho việc quy định các bảo đảm tài chính và bảo đảm khác đặc biệt đối với những nhóm người nước ngoài được quy định.

Một mốc so sánh để thấy diện này đứng ở đâu: Khoản 6 cho vợ hoặc chồng của công dân hoặc thường trú nhân một thị thực du khách.

Người giữ thị thực ấy có thể được cho phép thực hiện các hoạt động của bất kỳ thị thực nào trong các Điều 13 đến 22, đồng thời phải xin thường trú theo Điều 26 điểm b trong vòng ba tháng kể từ khi đủ điều kiện.

Người giữ thị thực làm việc từ xa không có bất kỳ điều nào trong số đó.

Thời gian xử lý công bố

Cơ quan có công bố một mốc xử lý cho diện này, và ba điều kiện gắn vào con số ấy quan trọng hơn bản thân nó. Con số: Thị thực du khách — Điều 11(1): 60 ngày.

Điều kiện thứ nhất, bảng nói rõ các mốc được liệt kê không phải ngày dương lịch thông thường mà phải tính bằng ngày làm việc, loại trừ thứ Bảy, Chủ nhật và các ngày lễ công của Nam Phi — nên 60 ngày ấy là khoảng mười hai tuần, không phải hai tháng.

Điều kiện thứ hai đáng đọc hai lần: Các mốc này chỉ áp cho hồ sơ nộp trong Nam Phi để xử lý tại Tổng cục.

Người xin diện làm việc từ xa thì nộp từ ngoài nước, nên mốc duy nhất mà cơ quan công bố cho Điều 11(1) lại được giới hạn vào đúng một kênh mà họ không dùng được. Điều kiện thứ ba là hạng của văn bản: Bảng ấy được phát hành theo chỉ thị Di trú số 6 năm 2026, tức một chỉ thị hành chính, sửa được mà không cần sửa luật hay sửa quy chế.

Vài mốc so sánh trong cùng bảng cho thấy thứ tự khó ngờ: Thị thực lao động phổ thông Điều 19(2) là bốn tuần, tức 20 ngày làm việc, và thị thực kỹ năng thiết yếu Điều 19(4) cũng bốn tuần; thị thực kinh doanh Điều 15 là tám tuần, tức 40 ngày làm việc; còn thị thực tại cửa khẩu Điều 10 dạng eVisa chỉ 10 ngày.

Vậy một thị thực du khách theo Điều 11(1) mất gấp ba lần một thị thực lao động phổ thông, và thị thực du khách cho vợ chồng theo Điều 11(6) mất 120 ngày, tức gấp đôi diện này.

Cuối cùng là những mốc do chính đương đơn nắm, lấy từ bảng yêu cầu:

Bảng có hiệu lực từ ngày 09/10/2024; hộ chiếu phải còn hiệu lực không dưới 30 ngày sau ngày dự kiến rời khỏi Nam Phi, theo Quy chế 9 khoản 1 điểm a; và hồ sơ phải kèm vé máy bay khứ hồi còn hiệu lực hoặc bằng chứng đã đặt chỗ, cùng một bản trình bày mục đích và thời gian của chuyến đi.

Yêu cầu cư trú thực tế

Câu "không được nhận việc làm tại Nam Phi" là đúng, nhưng bộ máy phía sau nó mới là phần quyết định người giữ thị thực sống thế nào.

Đạo luật cấm người giữ thị thực du khách làm việc rồi mở đúng một ngoại lệ, cho tiểu mục 11(1)(b)(iv). Quy chế 11 khoản 7 nói rõ xin phép ấy phải trả giá bằng bao nhiêu thông tin.

Hồ sơ phải nộp bản trình bày hoặc giấy tờ xác nhận mục đích hoặc sự cần thiết của công việc, bản chất công việc, trình độ và kỹ năng công việc ấy đòi, thời gian làm việc và nơi làm việc.

Hồ sơ còn phải nêu thời gian của chuyến đi, bằng chứng về tiền thù lao hoặc khoản trợ cấp mà người nước ngoài sẽ nhận từ người sử dụng lao động, cùng danh tính và thông tin liên hệ của người sử dụng lao động dự kiến hoặc người liên hệ của tổ chức chủ nhà.

Giấy phép ấy có thể bị đặt kèm các điều khoản và điều kiện riêng theo Quy chế 9 khoản 7. Có thể chỉ được cấp khi có khuyến nghị của một cơ quan nhà nước liên quan.

Nếu được chấp thuận thì được ghi chú lên chính thị thực du khách; và — chỗ cần đọc kỹ — không được gia hạn vượt quá thời hạn của thị thực cấp theo Điều 11(1)(a), tức bộ máy cho phép làm việc được viết quanh thị thực du khách ba tháng, không quanh thị thực ba năm.

Những điều khoản riêng mà Quy chế 9 khoản 7 cho phép gắn vào một thị thực cũng đáng biết trước khi tính chuyện dài hạn: Giới hạn loại hoạt động được thực hiện.

Giới hạn những nơi được thực hiện các hoạt động ấy; giới hạn loại hoạt động thương mại được hành nghề. Nghĩa vụ nộp bằng chứng về phương tiện tài chính đủ dùng; giới hạn thời gian chuyến đi hoặc thời hạn hiệu lực của thị thực; và huỷ thị thực nếu người giữ bị kết án bất kỳ tội nào theo Đạo luật này hoặc theo bất kỳ luật nào khác.

Còn một điều về chính danh sách hoạt động, và nó giải thích vì sao tra Quy chế không thấy diện này:

Quy chế 11 khoản 4 quy định một hoạt động thuộc Điều 11(1)(b)(iv) sẽ là công việc thực hiện cho một người sử dụng lao động nước ngoài theo một hợp đồng một phần đòi thực hiện một số hoạt động tại Nam Phi, và liên quan tới tám việc được kể tên: Dạy ở trường quốc tế.

Phim và quảng cáo sản xuất tại Nam Phi, kể cả diễn viên, người quay phim, thợ làm tóc, thợ trang điểm, kỹ sư ánh sáng và âm thanh. Nhà báo nước ngoài được một hãng tin nước ngoài biệt phái; giáo sư hoặc giảng viên thăm viếng hoặc nhà nghiên cứu học thuật.

Hoạ sĩ muốn viết, vẽ hoặc điêu khắc, với điều kiện nộp hồ sơ tác phẩm trước đó. Người trong ngành biểu diễn đi qua Nam Phi để diễn; trưởng đoàn hoặc người dẫn một đoàn du lịch; và chức sắc của một tổ chức tôn giáo được công nhận.

Làm việc từ xa không nằm trong danh sách ấy, và bản Quy chế duy nhất cơ quan đang phát hành là bản 2014 sửa 2018 — có trước diện này. Nên điều khoản mà cả diện này dựa vào đang được công bố ở dạng chưa chứa nó.

Sau cùng, con đường ra: Theo Quy chế hiện hành, người giữ thị thực làm việc từ xa không được xin đổi trạng thái thị thực khi đang ở trong Nam Phi, trừ các ngoại lệ quy định cho thị thực du khách, nên chuyển sang một diện cư trú khác về nguyên tắc phải ra ngoài lãnh thổ rồi nộp lại từ đầu.

Người phụ thuộc được kèm

Bảng yêu cầu chính thức của diện này, hiệu lực 09/10/2024, có tám dòng giấy tờ và không dòng nào cho vợ chồng hay con.

Diện này là thị thực khách theo mục 11 khoản 1 điểm b tiểu mục iv của Luật Nhập cư, cấp cho hoạt động được quy định là làm việc từ xa, thời hạn trên ba tháng tới ba năm, với ngưỡng thu nhập là lương gộp không dưới mức tương đương 650.796 rand một năm, chứng minh bằng sao kê ba tháng.

Ba ghi chú cuối bảng nói về nghĩa vụ đăng ký thuế và lệnh cấm làm việc tại Nam Phi, không ghi chú nào về người đi kèm, và không có ngưỡng tiền tăng thêm theo đầu người.

Trong quy chế nền, người nhà có xuất hiện nhưng ở tư cách giấy tờ phải nộp kèm cho chính đơn của đương đơn chứ không phải quyền được cấp thị thực:

Quy chế 9 đòi bằng chứng về trách nhiệm và quyền của cha mẹ hoặc văn bản đồng ý đối với con phụ thuộc đi cùng, và bản sao giấy chứng nhận kết hôn hoặc bằng chứng quan hệ đối với vợ chồng đi cùng.

Quy chế 9 khoản 9 cho đổi diện ngay trong nước đối với vợ chồng hoặc con đi kèm người giữ thị thực kinh doanh hoặc thị thực lao động, mà diện này là thị thực khách nên không nằm trong ngoại lệ ấy.

Một giới hạn phải nói rõ: Bản quy chế duy nhất mà cơ quan đang phát hành là bản năm 2014 sửa năm 2018, và bản ấy không nhắc tới làm việc từ xa, tức nó có trước diện thị thực này. Vì vậy câu đứng được là bảng yêu cầu chính thức im lặng, chứ không phải quy chế Nam Phi không cho người phụ thuộc.

Số nước miễn thị thực

Tư cách mà chương trình này cấp, dù là thị thực hay thẻ cư trú, không thay hộ chiếu của người giữ. Người giữ vẫn đi lại bằng hộ chiếu của nước mình, nên con số dưới đây là của hộ chiếu Nam Phi và chỉ trở thành của người giữ khi họ được cấp hộ chiếu Nam Phi.

Theo Passport Index của Prosperous Intelligence, dữ liệu ngày 30/09/2026, hộ chiếu Nam Phi tới được 86 điểm đến mà không cần xin thị thực lãnh sự trước. Con số ấy gộp ba hình thức nhập cảnh và không tính thị thực điện tử phải xin trước:

Hình thức nhập cảnhSố điểm đến
Miễn thị thực63
Thị thực cấp tại cửa khẩu19
Giấy phép du lịch điện tử (eTA)4
Cộng, là con số của Passport Index86
Thị thực điện tử phải xin trước, không cộng48

Vì vậy đây là thước đo mức đi lại thuận tiện, không phải số nước miễn thị thực theo nghĩa hẹp.

Để đối chiếu, cùng nguồn và cùng cách đếm, hộ chiếu Việt Nam tới được 44 điểm đến. Hai danh sách điểm đến không lồng vào nhau, nên hiệu số chỉ là chỉ dấu chứ không phải danh sách những nơi được mở thêm.

Prosperous Intelligence ghi ngày cho dữ liệu và khuyến nghị xác minh với cơ quan chính thức của nước đến trước khi đi.

Nghĩa vụ thuế phát sinh

Nghĩa vụ thuế của diện này nằm trong ba ghi chú cuối bảng yêu cầu, và nó có hai nhánh.

Người giữ thị thực là đối tượng cư trú thuế ở một nước có hiệp định tránh đánh thuế hai lần với Nam Phi theo Điều 108 khoản 2 Luật Thuế thu nhập năm 1962 thì phải đăng ký với Cơ quan Thuế Nam Phi nếu có mặt quá tổng cộng 183 ngày trong bất kỳ kỳ 12 tháng nào.

Người không thuộc diện ấy thì phải đăng ký với Cơ quan Thuế Nam Phi trong mọi trường hợp, không có ngưỡng ngày nào.

Có một điều đọc được trong Quy chế Di trú, đặt cạnh hai nhánh ấy mới thấy nó nặng đến đâu: Quy chế chỉ nhắc tới Cơ quan Thuế Nam Phi ở các điều về thị thực kinh doanh, thị thực lao động, thị thực doanh nghiệp hoặc giấy phép thường trú — không ở điều nào về thị thực du khách.

Nghĩa là nghĩa vụ đăng ký thuế trên diện này do thông báo năm 2024 đặt ra, không phải do Quy chế, và đây là diện thị thực du khách duy nhất bị đặt nghĩa vụ ấy.

Hai giới hạn phải nói rõ để người đọc không cộng thêm thứ không có. Thứ nhất, mốc 183 ngày là ngưỡng của nghĩa vụ đăng ký, không phải ngưỡng của nghĩa vụ nộp thuế; hai thứ ấy khác nhau và bảng yêu cầu chỉ nói về thứ nhất.

Thứ hai, cả bảng yêu cầu lẫn Quy chế đều không nêu một thuế suất nào, không nêu nghĩa vụ khai quyết toán, và không nói hiệp định tránh đánh thuế hai lần phân chia quyền đánh thuế thu nhập ấy ra sao — muốn biết những điều đó thì phải đọc ở cơ quan thuế, chứ không suy ra từ đây.

Chi phí bắt buộc ngoài khoản đầu tư

Bảng yêu cầu đòi chứng từ đã nộp lệ phí tương ứng mà không nêu số tiền, và con số ấy nằm ở một công báo riêng.

Công báo số 55209 ngày 17/08/2026, Thông báo Chính phủ số R. 7834, do Bộ trưởng Nội vụ ban hành theo Điều 7 khoản 1 điểm i Đạo luật Nhập cư, sau khi tham vấn Hội đồng Tư vấn Di trú và với sự đồng thuận của Bộ trưởng Tài chính.

Thông báo ấy thay thế quy chế 2 của bộ quy chế về lệ phí ban hành bằng Thông báo Chính phủ số R.615 trên Công báo số 27725 ngày 27/06/2005, và ấn định: Thị thực du khách theo Điều 11, kể cả đơn xin gia hạn — 425,00 rand.

Diện này là thị thực du khách theo Điều 11(1)(b)(iv) nên đó là lệ phí của nó; đây là một phép suy theo số hiệu điều luật, vì biểu phí gọi tên các điều luật chứ không gọi tên thương mại của từng diện.

Vài mốc trong cùng biểu phí cho thấy bậc của con số ấy: Thị thực kinh doanh Điều 15 và thị thực lao động Điều 19 đều 1.520,00 rand, tức gấp 3,57 lần; giấy phép thường trú Điều 25 cũng 1.520,00 rand.

Giấy chứng nhận thường trú 100,00 rand; thị thực quá cảnh Điều 10B và thị thực tại cửa khẩu Điều 10A đều 425,00 rand; và một phí xử lý điện tử 500,00 rand áp cho hệ thống cấp phép du lịch điện tử.

Đặt cạnh ngưỡng thu nhập thì lệ phí của diện này bằng 0,78% một tháng thu nhập mà chính nó đòi. Bản sửa biểu phí có hiệu lực từ ngày công bố. Còn hai khoản mà bảng yêu cầu không định giá nhưng Quy chế vẫn đòi.

Thứ nhất, vì thị thực này dài hơn ba tháng, Quy chế 11 khoản 2 buộc hồ sơ phải kèm giấy chứng nhận lý lịch cảnh sát — một yêu cầu phát sinh từ độ dài của thị thực, không phải từ tính chất công việc.

Thứ hai, danh sách giấy tờ của mẫu đơn thị thực du khách đòi giấy chứng nhận lý lịch cảnh sát đối với mọi đương đơn từ 18 tuổi trở lên, đối với tất cả các nước mà người ấy đã cư trú một năm hoặc lâu hơn kể từ khi đủ 18 tuổi, nên số giấy phải xin là hàm số của lịch sử đi lại của đương đơn chứ không phải của nước đến.

Ngoài ra vẫn là những khoản đã biết: Hợp đồng lao động còn hiệu lực do cả đương đơn lẫn chủ sử dụng lao động ở nước ngoài ký, và chứng nhận tiêm phòng sốt vàng đòi theo hành trình chứ không theo quốc tịch — cần nếu đã đi hoặc dự định đi từ, hoặc quá cảnh qua, một vùng có sốt vàng lưu hành, nhưng không cần nếu chỉ quá cảnh trực tiếp.

Lựa chọn đầu tư

Lựa chọn Ngưỡng Loại hình Trạng thái
Thu nhập hằng năm từ người sử dụng lao động ở nước ngoài 650.796 ZAR/năm Khác Đang mở

Bản tin hàng tuần

Bản tin về đầu tư quốc tịch, dòng vốn và dịch chuyển toàn cầu sẽ được gửi hàng tuần. Quý độc giả vui lòng để lại địa chỉ thư điện tử để nhận bản tin mới nhất.