Latvia cấp thị thực dài hạn loại D cho công dân nước thứ ba, trừ công dân Nga, làm việc từ xa cho chủ sử dụng lao động đăng ký tại một nước OECD hoặc tự doanh đăng ký tại nước ấy, với thu nhập tối thiểu 4.538 euro mỗi tháng. Theo Điều 18 khoản 2 Luật Nhập cư có hiệu lực từ 15/09/2026, thị thực có hạn tối đa một năm và cấp thêm được một lần; luật mới không giữ quyền xin giấy phép cư trú tạm thời ngay tại Latvia mà luật năm 2002 từng cho; theo cơ quan cấp, người giữ không có quyền làm việc tại Latvia, và theo Prosperous Intelligence, hộ chiếu Latvia, cấp cho công dân, tới được 198 điểm đến không cần xin thị thực lãnh sự trước.
Tổng quan chương trình
- Tên chính thức chương trình: Long-stay (D) Visa for Remote Work
- Website: pmlp.gov.lv
- Cơ quan quản lý: Pilsonības un migrācijas lietu pārvalde
Ngưỡng vốn tối thiểu
Ngưỡng thu nhập là một công thức chứ không phải con số cố định: Không thấp hơn tiền lương gộp bình quân tháng của người lao động trong năm trước, nhân hệ số 2,5.
Theo trang của cơ quan cấp công bố ngày 15/06/2026, dựa trên số liệu mới nhất của Cục Thống kê Trung ương, mức ấy là 4.538 EUR. Con số này kiểm được từ số liệu gốc: Ngày 03/03/2026, Cục Thống kê Trung ương công bố lương gộp bình quân tháng toàn quốc cho công việc toàn thời gian năm 2025 là 1.815 EUR, và 1.815 nhân 2,5 bằng 4.537,50 EUR. Một trang khác của cùng cơ quan, cập nhật ngày 11/02/2026, vẫn ghi mức cũ 4.213 EUR.
Phần phải sửa lại cho đúng là cách chứng minh, vì với người làm công thì đó không phải một giấy mà là hai giấy do hai cơ quan khác nhau cấp, và thiếu một là thiếu.
Giấy thứ nhất do cơ quan thuế hoặc cơ quan bảo hiểm xã hội của quốc gia thành viên OECD cấp, xác nhận quan hệ lao động hiện hành của đương đơn — tức một cơ quan nhà nước nước ngoài phải xác nhận, không phải người sử dụng lao động.
Giấy thứ hai do chính người sử dụng lao động đăng ký tại nước ấy cấp, và phải xác nhận ba điều trong cùng một văn bản: Đương đơn đã làm cho chính chủ ấy tối thiểu sáu tháng trước đó; mức trả không thấp hơn ngưỡng đã nêu; và đương đơn có thể thực hiện công việc của mình từ xa.
Người tự doanh thì chỉ cần một giấy, nhưng giấy ấy phải do cơ quan thuế của một quốc gia thành viên OECD cấp, và phải xác nhận thu nhập thu được trong sáu tháng gần nhất từ hoạt động tự doanh đạt ít nhất mức ấy — tức là một khoảng thời gian đã qua, không phải một cam kết cho tương lai.
Còn một phép thử về tiền thứ hai mà trang chương trình không nhắc và nó nằm ở tầng luật:
Điều 6 khoản 1 mục 4 Luật Nhập cư mới đòi người nước ngoài phải có phương tiện tài chính cần thiết, và giao cho Nội các ấn định mức tiền cùng cách xác định là đã có tiền, trong phạm vi Quy định (EU) 2016/399 chưa quy định; Điều 22 khoản 1 mục 7 cho phép từ chối thị thực dài hạn khi người nước ngoài không chứng minh được có đủ tiền để ở lại Cộng hoà Latvia hoặc một nước Schengen khác rồi đi tới một nước mà mình có quyền nhập cảnh.
Vậy nên có hai phép thử tiền song song: Một mức cơ quan cấp công bố cho riêng diện này, và một mức chung nằm trong quy chế của Nội các — muốn con số thứ hai thì phải tra quy chế ấy chứ không suy ra từ con số thứ nhất.
Kết quả pháp lý
Kết quả là một thị thực dài hạn loại D, cấp theo Điều 17 điểm 6 và Điều 18 khoản 2 Luật Nhập cư được Quốc hội Latvia thông qua ngày 20/08/2026 và có hiệu lực từ 15/09/2026, văn bản thay cho Luật Nhập cư năm 2002. Luật mới không còn dẫn chiếu Quy định (EU) số 265/2010, nhưng quyền đi lại trong khu vực Schengen của người giữ thị thực dài hạn vẫn đến từ chính quy định ấy của Liên minh châu Âu, nên đây không chỉ là giấy phép ở Latvia.
Thời hạn: Theo Điều 18 khoản 2, tối đa một năm, và được cấp thêm một thị thực dài hạn nữa không quá một năm.
Luật Nhập cư năm 2002, tại Điều 11 khoản 5, từng cho người giữ diện này quyền xin giấy phép cư trú tạm thời mà không phải rời khỏi Latvia, miễn là xin trong thời hạn còn hiệu lực của thị thực dài hạn. Luật mới không giữ quyền ấy: Điều 18 khoản 2 không có câu tương ứng, và Điều 27 về giấy phép cư trú tạm thời không liệt kê căn cứ làm việc từ xa, nên muốn ở lại sau khi thị thực hết hạn thì người giữ phải có một căn cứ cư trú riêng do luật quy định. Hồ sơ nộp trước 15/09/2026 vẫn được xét và cấp theo luật năm 2002, theo điểm 4 phần điều khoản chuyển tiếp của luật mới.
Lệnh cấm sau đó cũng cần đọc đúng chữ: Hết hạn thị thực cấp lại thì trong sáu tháng kế tiếp người ấy không được cấp một thị thực dài hạn mới ở Latvia trên cùng một lý do xin thị thực. Cấm theo lý do, không phải cấm tuyệt đối — một căn cứ khác thì không nằm trong lệnh cấm ấy.
Hai điều kiện về phía người trả lương nằm ngay trong định nghĩa của diện:
Người sử dụng lao động phải đăng ký tại một quốc gia thành viên khác của OECD, hoặc đương đơn là người tự doanh đăng ký tại một trong các quốc gia thành viên ấy; và theo trang của cơ quan cấp, quan hệ làm việc với chính người sử dụng lao động ấy phải đã kéo dài tối thiểu sáu tháng.
Một loại trừ theo quốc tịch được viết thẳng vào luật: Điều 18 khoản 3 không cho công dân Liên bang Nga xin thị thực làm việc từ xa.
Cuối cùng là phạm vi, để người đọc biết phần còn lại của bảng này phải tra ở đâu: Trong văn bản tiếng Latvia của Luật Nhập cư mới, gốc từ «attālināt» (từ xa) chỉ xuất hiện ở Điều 17 và Điều 18.
Nghĩa là diện này không có một chương riêng — mọi điều kiện khác của nó đến từ các điều khoản thị thực chung của luật, hoặc từ quy chế của Nội các. Quy chế thị thực hiện hành là Quy định số 676 ngày 30/08/2011 của Nội các, được luật mới giữ áp dụng trong phạm vi không trái với luật cho tới khi có quy chế thay thế, nhưng không quá 01/12/2027.
Thời gian xử lý công bố
Thị thực dài hạn cấp cho một năm. Điều kiện về thời gian nằm ở quá khứ chứ không ở tương lai: Người làm công phải có giấy của chủ sử dụng lao động đăng ký tại nước OECD ấy xác nhận đã làm cho chính chủ ấy tối thiểu sáu tháng trước đó; người tự doanh phải chứng minh thu nhập của sáu tháng gần nhất.
Nghĩa là người vừa đổi việc hoặc vừa ra làm riêng không đủ điều kiện dù mức thu nhập có đạt. Ảnh nộp kèm không được cũ hơn sáu tháng. Trang công bố đề ngày 26/07/2022 và cập nhật lần cuối ngày 11/02/2026
Yêu cầu cư trú thực tế
Diện này dành cho công dân nước thứ ba đang làm cho một chủ sử dụng lao động đăng ký tại một quốc gia thành viên của OECD, hoặc là người tự doanh đăng ký tại một trong các nước ấy, và có thể thực hiện công việc của mình từ xa trong thời gian ở Cộng hoà Latvia.
Hồ sơ phải kèm giấy tờ xác nhận nơi cư trú dự kiến tại Latvia. Điều quan trọng mà trang của cơ quan cấp nói rất dứt khoát: Người được cấp thị thực làm việc từ xa không có quyền làm việc tại Cộng hoà Latvia.
Phần mà bản ghi cũ chưa mang là tầng điều kiện chung, và nó áp cho diện này y như mọi diện khác vì luật không cho diện này một chương riêng. Điều 6 khoản 1 Luật Nhập cư mới đòi người nước ngoài phải đồng thời thoả năm nhóm.
Thứ nhất, một giấy thông hành còn hiệu lực, và Điều 7 khoản 1 định nghĩa «còn hiệu lực» bằng bảy điều kiện: Giấy ấy được Cộng hoà Latvia công nhận. Đúng mẫu đã quy định; mang đủ dữ kiện nhân thân và ảnh của người dùng nó.
Thời hạn còn lại dài hơn thời gian dự kiến ở lại Latvia hoặc ở lại một nước Schengen khác ít nhất ba tháng. Được cấp trong vòng mười năm gần nhất, khi người nước ngoài dùng nó để nhập cảnh theo Quy định (EU) 2016/399.
Không có sửa chữa ngoài quy định của bên phát hành, không hư hỏng cơ học hay nhoè khiến không nhận được người giữ, không đọc được thông tin hay không phát hiện được giả mạo; và còn chỗ cho ít nhất hai dấu kiểm tra biên giới trên các trang dành cho thị thực.
Thứ hai, một thị thực còn hiệu lực hoặc một giấy phép cư trú. Thứ ba, một chính sách bảo hiểm Y tế còn hiệu lực, và Nội các là nơi ấn định những trường hợp được nhập cảnh và ở lại mà không cần bảo hiểm.
Thứ tư, không có trở ngại nào khác do luật hay quy định khác đặt ra đối với việc nhập cảnh. Thứ năm, có phương tiện tài chính cần thiết theo mức Nội các ấn định.
Năm nhóm ấy phải cùng đúng một lúc, nên một hồ sơ đạt ngưỡng thu nhập vẫn có thể vướng ở một quyển hộ chiếu gần hết hạn hoặc đã hết trang trống.
Hai nghĩa vụ thủ tục nữa áp cho người Việt Nam. Theo Điều 19 khoản 3 mục 1, hồ sơ thị thực dài hạn nộp tại cơ quan đại diện của Latvia phụ trách vùng lãnh thổ nơi đương đơn thường trú, và Phụ lục 2 Quy định số 725 của Nội các giao Việt Nam cho Đại sứ quán Latvia tại Trung Quốc; người đang lưu trú hợp pháp tại Latvia thì nộp tại Cơ quan Quốc tịch và Di trú theo điểm 25 Quy định số 676.
Theo Điều 12 khoản 1, công dân những nước không thuộc các nhóm được miễn, trong đó có Việt Nam, nếu chưa có thị thực hay giấy phép cư trú do Latvia cấp thì phải khai báo mục đích chuyến đi, thời gian và nơi lưu trú dự kiến, lộ trình cùng một số thông tin khác 48 giờ trước khi nhập cảnh Latvia.
Người phụ thuộc được kèm
Khung thị thực của diện này không có chỗ cho người phụ thuộc, và đó là sự vắng mặt trong văn bản chứ không phải một điều cấm. Trang của cơ quan cấp chỉ nhắc tới thành viên gia đình ở thanh điều hướng dành cho công dân Liên minh châu Âu, không nhắc trong thân bài.
Chương về thị thực của Luật Nhập cư cũng không nhắc tới vợ chồng, con, thành viên gia đình hay họ hàng.
Những gì khung có nói: Cơ sở pháp lý là Điều 17 điểm 6 và Điều 18 khoản 2, khoản 3 Luật Nhập cư có hiệu lực từ 15/09/2026, dành cho người làm từ xa cho một chủ đăng ký tại một nước thuộc Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế hoặc người tự doanh đăng ký tại nước ấy, và loại trừ công dân Liên bang Nga.
Thời hạn tối đa một năm, được cấp thêm một lần nữa tối đa một năm, và hết lần hai thì sáu tháng sau mới xin lại được với cùng lý do; bảo hiểm y tế tối thiểu 42.600 euro.
Không có ngưỡng tiền tăng thêm cho người phụ thuộc, vì không có người phụ thuộc trong khung. Một giới hạn: Quy chế thị thực của Nội các chưa đối chiếu được toàn văn tại nguồn, nên câu đứng được là khung này không có chỗ cho người phụ thuộc và người nhà phải tự có căn cứ riêng, chứ không phải Latvia cấm mang gia đình.
Số nước miễn thị thực
Tư cách mà chương trình này cấp, dù là thị thực hay thẻ cư trú, không thay hộ chiếu của người giữ. Người giữ vẫn đi lại bằng hộ chiếu của nước mình, nên con số dưới đây là của hộ chiếu Latvia và chỉ trở thành của người giữ khi họ được cấp hộ chiếu Latvia.
Theo Passport Index của Prosperous Intelligence, dữ liệu ngày 30/09/2026, hộ chiếu Latvia tới được 198 điểm đến mà không cần xin thị thực lãnh sự trước. Con số ấy gộp ba hình thức nhập cảnh và không tính thị thực điện tử phải xin trước:
| Hình thức nhập cảnh | Số điểm đến |
|---|---|
| Miễn thị thực | 165 |
| Thị thực cấp tại cửa khẩu | 23 |
| Giấy phép du lịch điện tử (eTA) | 10 |
| Cộng, là con số của Passport Index | 198 |
| Thị thực điện tử phải xin trước, không cộng | 34 |
Vì vậy đây là thước đo mức đi lại thuận tiện, không phải số nước miễn thị thực theo nghĩa hẹp.
Để đối chiếu, cùng nguồn và cùng cách đếm, hộ chiếu Việt Nam tới được 44 điểm đến. Hai danh sách điểm đến không lồng vào nhau, nên hiệu số chỉ là chỉ dấu chứ không phải danh sách những nơi được mở thêm.
Prosperous Intelligence ghi ngày cho dữ liệu và khuyến nghị xác minh với cơ quan chính thức của nước đến trước khi đi.
Nghĩa vụ thuế phát sinh
Đây là một trong rất ít chương trình có ưu đãi thuế thật gắn đúng vào điều luật cấp thị thực.
Đường đi của nó bắt đầu ở Điều khoản Chuyển tiếp 57 Luật Nhập cư năm 2002, sửa ngày 02/06/2022 và 22/09/2022, buộc Nội các trình Quốc hội bản sửa luật thuế thu nhập cá nhân quy định một mức thuế giảm trong một năm cho người nước ngoài nhận thị thực dài hạn theo Điều 11 khoản 5 Luật Nhập cư và đã chuyển cư trú thuế sang Latvia.
Điều khoản ấy đã được thi hành: Điều 15 khoản 19 mục 2 Luật về Thuế Thu nhập Cá nhân cho người nước ngoài nhận thị thực dài hạn theo đúng Điều 11 khoản 5 ấy quyền chọn áp mức thuế 15%.
Diện thu nhập được hưởng: Thu nhập từ làm việc từ xa cho người sử dụng lao động đăng ký tại một quốc gia thành viên khác của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế, hoặc thu nhập từ hoạt động kinh tế đăng ký tại một quốc gia thành viên của tổ chức ấy.
Thời hạn: Áp trong 365 ngày kể từ ngày người ấy trở thành cư dân Latvia theo luật về thuế và phí. Hiệu lực: Điều khoản chuyển tiếp 195 của chính luật thuế quy định khoản 19 mục 2 có hiệu lực từ 01/01/2023 và áp cho thu nhập phát sinh từ 01/01/2023, ghi trong bản luật sửa ngày 15/06/2023 có hiệu lực 12/07/2023.
Và mức ấy vẫn còn nguyên trong bản đang hiệu lực từ 01/01/2026, dù thang chung đã bị đẩy lên. Tuy vậy, điều khoản ấy vẫn dẫn chiếu Điều 11 khoản 5 Luật Nhập cư năm 2002, mà luật này đã hết hiệu lực từ 15/09/2026; thị thực làm việc từ xa nay cấp theo Điều 17 điểm 6 và Điều 18 khoản 2 của luật mới, và bản luật thuế mở ngày 16/10/2026 chưa được sửa để dẫn chiếu các điều ấy. Vì vậy chưa có văn bản chính thức xác nhận người nhận thị thực theo luật mới được chọn mức 15%. Nhưng mức 15% không miễn phí, và đây là phần bên bán chương trình hay bỏ đi. Chọn nó thì mất ba thứ.
Thứ nhất, theo Điều 12 khoản 9, thu nhập áp mức ấy không được hưởng mức tối thiểu không chịu thuế. Thứ hai, theo Điều 13 khoản 3, không được hưởng các khoản giảm trừ người phụ thuộc tại khoản 1 điểm 1 và điểm 4.
Thứ ba, theo Điều 10 khoản 5 mục 1, không được khấu trừ các khoản chi hợp lệ tại khoản 1 các điểm 2, 3, 5, 6 và 8.
Để biết mình đang đánh đổi cái gì, đây là thang chung: 25,5% cho phần dưới trần đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc và 33% cho phần vượt trần. Một điều đáng nói về cách thông tin đến tay người đọc: Trang chương trình của chính cơ quan cấp không hề nhắc mức 15%, và chỉ nhắc tới thuế trong cụm cơ quan quản lý thuế.
Người chỉ đọc trang chương trình sẽ không biết mình có quyền chọn. Đọc ô này đúng phạm vi: Ô này nói về quyền chọn mức thuế và những quyền lợi bị mất khi chọn nó, còn thông số thời hạn của thị thực, ngưỡng thu nhập, mức bảo hiểm và quyền làm việc thì nằm ở những ô khác của chính bảng này.
Và cả bốn nguồn của bản ghi không nói về nghĩa vụ đóng bảo hiểm xã hội, không nói về thủ tục đăng ký với cơ quan thuế Latvia, và không nói cách tính 365 ngày khi người nộp thuế đến giữa năm. Riêng hiệp định tránh đánh thuế hai lần thì hướng dẫn năm 2025 của Cơ quan Thuế Nhà nước Latvia có nói: Chế độ 15% không áp cho người nước ngoài mà theo một hiệp định Latvia đã ký và đã có hiệu lực được coi là cư dân của nước ký kết kia, và hiệp định giữa Latvia với Việt Nam có hiệu lực từ 06/08/2018.
Chi phí bắt buộc ngoài khoản đầu tư
Khoản có số duy nhất trong hồ sơ là bảo hiểm y tế. Phải có bản sao giấy tờ chứng minh đã mua bảo hiểm y tế có hiệu lực tại Cộng hoà Latvia và tại các nước thành viên Schengen.
Mức trách nhiệm tối thiểu của công ty bảo hiểm ghi trong hợp đồng không dưới 42.600 EUR, và mức ấy phải giữ trong suốt thời hạn bảo hiểm chứ không phải tại thời điểm nộp.
Để thấy nó nặng đến đâu thì so với ngưỡng thu nhập: 42.600 EUR bằng hơn chín lần mức thu nhập tháng 4.538 EUR mà diện này đòi.
Khoản thứ hai là lệ phí nhà nước, và con số của nó nằm trong quy chế của Nội các chứ không nằm trên trang chương trình.
Điều 13 Luật Nhập cư mới buộc người nước ngoài nộp lệ phí nhà nước cho việc xét các giấy tờ cần thiết để xin thị thực dài hạn cùng các dịch vụ liên quan, và giao Nội các quy định mức phí, cách nộp cùng những nhóm người được miễn.
Mức ấy nằm ở Quy định số 731 ngày 26/11/2024 của Nội các, có hiệu lực từ 01/01/2025 và được luật mới giữ áp dụng cho tới khi có quy định thay thế, nhưng không quá 01/12/2027: 90 EUR cho việc xét giấy tờ xin thị thực dài hạn, và 180 EUR khi hồ sơ được nộp lúc thời hạn lưu trú hợp pháp tại Latvia còn chưa đến ba ngày làm việc.
Trang chương trình của cơ quan cấp đòi một giấy tờ xác nhận đã nộp lệ phí ấy nhưng không ghi số tiền, nên con số phải tra ở quy định ấy.
Những khoản còn lại là thủ tục chứ không phải tiền, nhưng thiếu là trả hồ sơ: Một giấy thông hành còn hiệu lực, kèm bản sao hộ chiếu nếu nộp giấy tờ cho cơ quan qua đường bưu điện; đơn xin thị thực đã điền và ký, nộp qua biểu mẫu điện tử của cơ quan; và một ảnh không cũ hơn sáu tháng.
Lựa chọn đầu tư
| Lựa chọn | Ngưỡng | Loại hình | Trạng thái |
|---|---|---|---|
| Thu nhập hằng tháng, bằng 2,5 lần lương gộp bình quân năm trước | 4.538 EUR/tháng | Khác | Đang mở |