Đức cấp giấy phép cư trú để hành nghề tự do theo Điều 21 khoản 5 Luật Cư trú, không đòi vốn hay ngưỡng thu nhập cố định: Đương đơn chứng minh đủ tiền sinh hoạt, và người trên 45 tuổi phải có chế độ hưu trí thoả đáng. Lên định cư theo đường chung, đòi năm năm giữ giấy phép, 60 tháng đóng bảo hiểm hưu trí, sinh kế bảo đảm, tiếng Đức và các điều kiện hội nhập; theo Prosperous Intelligence, hộ chiếu Đức, cấp cho công dân chứ không cho người giữ giấy phép này, tới được 203 điểm đến không cần xin thị thực lãnh sự trước.
Tổng quan chương trình
- Tên chính thức chương trình: Residence permit for freelance work (Residence Act, Section 21(5))
- Website: auswaertiges-amt.de
- Cơ quan quản lý: Local foreigners authorities (Ausländerbehörden)
Ngưỡng vốn tối thiểu
Không đặt ngưỡng thu nhập cố định; đương đơn chứng minh đủ nguồn tiền trang trải sinh hoạt, và nếu trên 45 tuổi thì phải có chế độ hưu trí thoả đáng.
Luật không đòi vốn. Điều 21 khoản 5 Luật Cư trú cho người hành nghề tự do được cấp giấy phép theo lối ngoại lệ so với khoản 1, nên cả ba điều kiện của khoản 1 đều không áp, kể cả điều kiện có vốn tự có hoặc cam kết cho vay để thực hiện ý tưởng kinh doanh.
Điều kiện tiền duy nhất gắn với tuổi nằm ở khoản 3: Theo nguyên tắc chung, người trên 45 tuổi chỉ được cấp nếu có chế độ hưu trí thoả đáng. Luật không quy ra mức tiền cụ thể cho chữ thoả đáng.
Mức duy nhất được một cơ quan công bố là của Berlin: Từ 01/07/2025, cổng dịch vụ của chính quyền Berlin đòi người xin chứng minh rằng khi tròn 67 tuổi sẽ có lương hưu 1.612,53 EUR mỗi tháng trong ít nhất 12 năm, hoặc có tài sản 232.204 EUR. Mức ấy chỉ áp tại Berlin; Berlin miễn chứng minh hưu trí cho công dân năm nước là Cộng hoà Dominica, Indonesia, Nhật Bản, Philippines và Sri Lanka, và Việt Nam không nằm trong danh sách ấy.
Kết quả pháp lý
Giấy phép cư trú để hành nghề tự do cấp theo Điều 21 khoản 5 Luật Cư trú, và cấp theo lối ngoại lệ so với khoản 1 — tức không phải vượt phép thử về lợi ích kinh tế mà khoản 1 đặt cho người tự doanh nói chung.
Nhưng câu quyết định là câu cuối của khoản 5, và trong nguyên bản nó chỉ gồm bốn chữ: Khoản 4 không được áp dụng. Khoản 4 chứa hai thứ, và cả hai bị gạt bỏ cùng lúc — đây là chỗ dễ đọc sót nhất của cả điều luật.
Thứ nhất là trần ba năm của giấy phép: Người hành nghề tự do không chịu mức trần ấy. Thứ hai là đường tắt ba năm lên giấy phép định cư dành riêng cho người tự doanh: Người hành nghề tự do cũng không có con đường ấy.
Một bên là nới, một bên là siết, và đọc một vế mà bỏ vế kia thì ra hai kết luận đều sai. Đường lên định cư của họ là đường chung tại Điều 9 khoản 2, dài hơn hẳn: Năm năm giữ giấy phép cư trú, sinh kế bảo đảm, và tối thiểu sáu mươi tháng đóng góp bắt buộc hoặc tự nguyện vào quỹ hưu trí theo luật định, hoặc chứng minh khoản chi cho một quyền lợi tương đương ở một tổ chức bảo hiểm hay hưu trí; thời gian nghỉ nghề vì chăm con hoặc chăm sóc người thân tại nhà được tính tương ứng.
Có một lộ trình thứ ba ít được nhắc, nằm ở khoản 6: Người đã được cấp giấy phép cư trú vì một mục đích khác có thể được cho phép thực hiện hoạt động tự doanh mà vẫn giữ nguyên mục đích cư trú cũ, với điều kiện các giấy phép mà những quy định khác đòi hỏi đã được cấp hoặc đã được hứa cấp.
Thời gian xử lý công bố
Không văn bản chính thức nào công bố một thời hạn xử lý cố định cho diện này. Trang quy định thị thực chung của Bộ Ngoại giao Đức chỉ nói người xin thị thực quốc gia, tuỳ mục đích lưu trú, phải tính tới thời gian xử lý kéo dài vài tháng.
Độ dài ấy đến từ cấu trúc thủ tục. Theo Điều 6 khoản 3 Luật Cư trú, lưu trú dài hạn đòi một thị thực quốc gia cấp trước khi nhập cảnh, nên người mang hộ chiếu Việt Nam phải xin thị thực tại cơ quan đại diện của Đức trước khi sang.
Sổ tay Thị thực của Bộ Ngoại giao ghi rằng cơ quan quản lý người nước ngoài có thẩm quyền tại Đức phải được hỏi ý kiến, bất kể thời gian lưu trú dự kiến; và vì Điều 21 khoản 5 dẫn chiếu khoản 1 câu 3, hồ sơ còn phải qua ý kiến của các cơ quan chuyên môn và cơ quan cấp phép hành nghề tại nơi dự kiến làm việc
Yêu cầu cư trú thực tế
Điều 21 khoản 5 không đặt số ngày tối thiểu phải có mặt tại Đức. Ràng buộc thật nằm ở hai quy tắc về vắng mặt của Luật Cư trú.
Thứ nhất, theo Điều 51 khoản 1 số 7, giấy phép cư trú mất hiệu lực khi người nước ngoài đã xuất cảnh và không nhập cảnh trở lại trong vòng sáu tháng, hoặc trong một thời hạn dài hơn do cơ quan quản lý người nước ngoài ấn định.
Thứ hai, theo Điều 9 khoản 4 số 2, khi tính năm năm giữ giấy phép để lên định cư, mỗi lần ở ngoài Đức mà không làm giấy phép mất hiệu lực chỉ được tính tối đa sáu tháng.
Ngoài thời gian và đóng góp hưu trí, Điều 9 khoản 2 còn đòi ba điều kiện về hội nhập để lên giấy phép định cư: Có kiến thức tiếng Đức đủ dùng; có kiến thức cơ bản về trật tự pháp lý và xã hội cùng điều kiện sống tại Đức; và có đủ không gian ở cho bản thân và cho thân nhân sống chung.
Hai điều kiện đầu coi như đã chứng minh nếu đã hoàn thành một khoá học hội nhập. Luật cũng mở lối miễn trừ: Bỏ qua hai điều kiện ấy nếu người nước ngoài không đáp ứng được vì bệnh hay khuyết tật về thể chất, trí tuệ hay tâm thần, và có thể bỏ qua để tránh trường hợp khắc nghiệt.
Với vợ chồng đang sống chung, điều kiện đóng hưu trí và hai điều kiện về giấy phép làm việc chỉ cần một người đáp ứng
Người phụ thuộc được kèm
Vợ hoặc chồng của người giữ giấy phép theo Điều 21 có quyền được cấp giấy phép cư trú theo Điều 30 khoản 1, khi cả hai đã đủ 18 tuổi, người chính giữ một giấy phép cư trú thuộc các nhóm được liệt kê, trong đó có giấy phép theo Điều 21, hôn nhân đã có khi giấy phép ấy được cấp, và thời gian cư trú dự kiến trên một năm.
Hai điều kiện được miễn cho gia đình người giữ giấy phép theo Điều 21. Yêu cầu vợ hoặc chồng giao tiếp được bằng tiếng Đức ở mức cơ bản không được xét khi người chính giữ giấy phép theo Điều 21, theo Điều 30 khoản 1 câu 3. Yêu cầu có đủ chỗ ở cho vợ hoặc chồng và con chưa thành niên còn độc thân cũng được miễn theo Điều 29 khoản 5, nhưng khoản này hết hiệu lực ngày 31/12/2028.
Con chưa thành niên còn độc thân được cấp giấy phép cư trú nếu cả cha lẫn mẹ, hoặc người duy nhất có quyền nuôi dưỡng, giữ một trong các loại giấy phép được liệt kê, trong đó có giấy phép cư trú theo Điều 21.
Một rào cản riêng áp cho trẻ đã tròn 16 tuổi mà không chuyển trung tâm đời sống sang Đức cùng cha mẹ: Em phải thông thạo tiếng Đức, hoặc phải thấy rõ là dựa trên học vấn và hoàn cảnh sống từ trước em sẽ hoà nhập được vào điều kiện sống tại Đức.
Rào ấy không áp dụng khi cha mẹ, hoặc người vợ hoặc chồng sống cùng gia đình, giữ giấy phép theo Điều 21. Khi quyền nuôi dưỡng là chung, giấy phép nên được cấp để đoàn tụ với chỉ một bên nếu bên kia đã tuyên bố đồng ý hoặc đã có quyết định ràng buộc của cơ quan có thẩm quyền
Số nước miễn thị thực
Tư cách mà chương trình này cấp, dù là thị thực hay thẻ cư trú, không thay hộ chiếu của người giữ. Người giữ vẫn đi lại bằng hộ chiếu của nước mình, nên con số dưới đây là của hộ chiếu Đức và chỉ trở thành của người giữ khi họ được cấp hộ chiếu Đức.
Theo Passport Index của Prosperous Intelligence, dữ liệu ngày 30/09/2026, hộ chiếu Đức tới được 203 điểm đến mà không cần xin thị thực lãnh sự trước. Con số ấy gộp ba hình thức nhập cảnh và không tính thị thực điện tử phải xin trước:
| Hình thức nhập cảnh | Số điểm đến |
|---|---|
| Miễn thị thực | 169 |
| Thị thực cấp tại cửa khẩu | 24 |
| Giấy phép du lịch điện tử (eTA) | 10 |
| Cộng, là con số của Passport Index | 203 |
| Thị thực điện tử phải xin trước, không cộng | 30 |
Vì vậy đây là thước đo mức đi lại thuận tiện, không phải số nước miễn thị thực theo nghĩa hẹp.
Để đối chiếu, cùng nguồn và cùng cách đếm, hộ chiếu Việt Nam tới được 44 điểm đến. Hai danh sách điểm đến không lồng vào nhau, nên hiệu số chỉ là chỉ dấu chứ không phải danh sách những nơi được mở thêm.
Prosperous Intelligence ghi ngày cho dữ liệu và khuyến nghị xác minh với cơ quan chính thức của nước đến trước khi đi.
Nghĩa vụ thuế phát sinh
Điều 21 Luật Cư trú không nhắc tới thuế, nhưng diện này lại được định nghĩa bằng một điều của Luật Thuế, và chính chỗ ấy quyết định toàn bộ hệ quả thuế.
Sổ tay Thị thực của Bộ Ngoại giao ghi: Nhóm người thuộc diện hành nghề tự do được xác định theo danh mục nghề ở Điều 18 khoản 1 số 1 câu 2 Luật Thuế Thu nhập.
Danh mục ấy gồm hoạt động khoa học, nghệ thuật, viết lách, giảng dạy hoặc giáo dục hành nghề độc lập, cùng nghề của bác sĩ, nha sĩ, thú y, luật sư, công chứng viên, luật sư sáng chế, kỹ sư trắc địa, kỹ sư và kiến trúc sư.
Danh mục còn có hoá nghiệm thương mại, kiểm toán viên, tư vấn thuế, cố vấn kinh tế và quản trị, kiểm toán viên tuyên thệ, đại diện thuế, lương y, nha công, vật lý trị liệu, nhà báo, phóng viên ảnh, phiên dịch, biên dịch, hoa tiêu và các nghề tương tự.
Ba hệ quả chảy ra từ cách phân loại ấy, và đây mới là nội dung thuế thật của bản ghi.
Thứ nhất, thu nhập rơi vào Điều 18 là thu nhập từ lao động độc lập chứ không phải cơ sở kinh doanh, vì Điều 15 khoản 2 câu 1 Luật Thuế Thu nhập loại trừ rõ rằng một hoạt động chỉ là cơ sở kinh doanh khi nó không phải nông lâm nghiệp, không phải nghề tự do và không phải lao động độc lập khác.
Thứ hai, và đây là hệ quả tiền bạc: Điều 2 khoản 1 Luật Thuế Kinh doanh chỉ đánh thuế kinh doanh lên mọi cơ sở kinh doanh cố định.
Nên người hành nghề tự do không thuộc đối tượng thuế kinh doanh, và do đó cũng không dùng tới khoản miễn 24.500 EUR của Điều 11 khoản 1 số 1 Luật ấy hay khoản giảm trừ gấp bốn lần chỉ số thuế kinh doanh của Điều 35 khoản 1 Luật Thuế Thu nhập.
Thứ ba, về thủ tục: Điều 138 khoản 1 câu 3 Bộ luật Thuế quy định ai bắt đầu một hoạt động hành nghề tự do phải thông báo cho cơ quan thuế có thẩm quyền theo Điều 19.
Khai thẳng với cơ quan thuế, không qua chính quyền xã; khoản 1b còn buộc cung cấp thêm thông tin về các quan hệ pháp lý và thực tế trọng yếu cho việc đánh thuế, truyền theo bộ dữ liệu và giao diện do cơ quan quy định.
Điều 6 khoản 1 Luật Kinh doanh cũng loại các nghề như luật sư, công chứng viên, kiểm toán viên, tư vấn thuế và đại diện thuế ra khỏi phạm vi luật kinh doanh, nên các nghề ấy không phải đăng ký kinh doanh.
Về chính giấy phép: Điều 21 khoản 5 câu 1 cho phép cấp giấy phép cư trú để hành nghề tự do khác với khoản 1, tức không phải chứng minh lợi ích kinh tế hay nhu cầu vùng.
Câu 2 đòi giấy phép hành nghề phải đã được cấp hoặc đã được cam kết cấp nếu nghề ấy đòi hỏi; và câu 4 nói khoản 4 không được áp dụng, nghĩa là con đường lên giấy phép định cư sau ba năm của khoản 4 không mở cho diện này.
Bộ Ngoại giao còn lưu ý người trên 45 tuổi phải chứng minh có chu cấp tuổi già thoả đáng.
Ngưỡng cư trú thuế: Điều 1 khoản 1 câu 1 Luật Thuế Thu nhập buộc nghĩa vụ thuế không giới hạn với cá nhân có nơi ở hoặc nơi lưu trú thường xuyên trong nước, và Điều 9 câu 2 Bộ luật Thuế quy định cư trú liên tục trên sáu tháng luôn được coi là nơi lưu trú thường xuyên ngay từ đầu, gián đoạn ngắn không tính.
Câu 3 đặt một ngoại lệ cho các chuyến thăm thân, nghỉ ngơi hay chữa bệnh không quá một năm, và hoạt động hành nghề tự do không nằm trong ngoại lệ ấy.
Về thuế giá trị gia tăng, Điều 19 khoản 1 câu 1 Luật Thuế Giá trị Gia tăng miễn thuế doanh thu nếu tổng doanh thu năm trước không vượt 25.000 EUR và năm hiện hành không vượt 100.000 EUR.
Đọc ô này đúng phạm vi: Nguồn luật thuế nói thu nhập của người hành nghề tự do được xếp loại thế nào và không phải chịu loại thuế nào; nó không cho diện này bất kỳ ưu đãi, miễn giảm hay thuế suất riêng nào theo giấy phép cư trú.
Toàn bộ hệ quả đến từ việc phân loại nghề, không đến từ tấm giấy phép; và tài liệu di trú thì không nói gì về thuế
Chi phí bắt buộc ngoài khoản đầu tư
Điều kiện riêng của diện hành nghề tự do nằm ở câu thứ hai Điều 21 khoản 5: Giấy phép cần thiết để hành nghề tự do ấy phải đã được cấp, hoặc việc cấp nó phải đã được hứa. Quy định này chỉ áp cho những nghề cần giấy phép hành nghề, và chỉ cần việc cấp giấy phép ấy đã được hứa; giấy phép hành nghề không bắt buộc phải cấp xong trước khi giấy phép cư trú được xét.
Câu thứ ba của khoản 5 dẫn chiếu Điều 21 khoản 1 câu 3, nên hồ sơ vẫn phải qua ý kiến của các hiệp hội có chuyên môn, cơ quan quản lý ngành nghề, tổ chức đại diện nghề nghiệp theo luật công và cơ quan cấp phép hành nghề tại nơi dự kiến làm việc