Phần Lan cấp giấy phép cư trú liên tục cho nhà khởi nghiệp nước ngoài làm toàn thời gian trong doanh nghiệp đã hoặc sẽ đăng ký tại Phần Lan, không đặt ngưỡng vốn mà dựa vào thẩm định Business Finland và mức sinh sống do Cơ quan Di trú công bố cho năm 2026, từ 1.030 đến 1.210 euro ròng mỗi tháng tuỳ nơi ở. Hạn quyết định hai tháng tính từ lúc nộp sinh trắc học, đủ hồ sơ, có thể kéo dài trong trường hợp ngoại lệ và ngừng đếm khi cơ quan đòi giải trình; theo Prosperous Intelligence, hộ chiếu Phần Lan, cấp cho công dân, không cho người giữ giấy phép, tới được 203 điểm đến không cần xin thị thực lãnh sự trước.
Tổng quan chương trình
- Tên chính thức chương trình: Residence permit for a start-up entrepreneur
- Website: migri.fi
- Cơ quan quản lý: Maahanmuuttovirasto
Ngưỡng vốn tối thiểu
Đạo luật không đặt một ngưỡng vốn nào, và ở diện này sự im lặng ấy là thiết kế chứ không phải thiếu sót: Lộ trình vào không đo bằng tiền mà đo bằng một văn bản thẩm định.
Điều 80 cho phép cấp giấy phép cư trú liên tục cho nhà khởi nghiệp nước ngoài nếu người ấy đang hoặc có ý định hoạt động toàn thời gian ở vị trí có trách nhiệm trong một doanh nghiệp đã đăng ký hoặc sẽ đăng ký tại Phần Lan.
Điều kiện đi kèm là mô hình kinh doanh của doanh nghiệp ấy và năng lực cá nhân của những người làm việc trong đó, theo lời thẩm định do Trung tâm Tài trợ Đổi mới Business Finland đưa ra, đáp ứng các điều kiện của chính khoản tài trợ mà cơ quan ấy dành cho doanh nghiệp đổi mới tăng trưởng nhanh ở giai đoạn khởi đầu.
Nghĩa là tiêu chuẩn tài chính được mượn nguyên từ một chương trình tài trợ khác, và Điều 80 a nói rõ lời thẩm định ấy dựa trên quyền xét đoán của Business Finland.
Tiêu chí Business Finland công bố cụ thể hoá chuẩn ấy: Nhóm sáng lập tối thiểu hai người và cùng nắm ít nhất 60% công ty; kế hoạch phải lập công ty trách nhiệm hữu hạn, không phải doanh nghiệp tư nhân một chủ; doanh nghiệp chuyển sang Phần Lan phải dưới năm năm tuổi, trừ khi hoạt động thay đổi đáng kể khi chuyển; và không có hạn ngạch số giấy phép mỗi năm.
Điều kiện tiền bạc duy nhất mà luật tự đặt nằm ở Điều 39 và cũng không có con số: Giấy phép chỉ được cấp khi phương tiện sinh sống được bảo đảm, mà bảo đảm ở đây định nghĩa theo chiều phủ định.
Với giấy phép đầu tiên, phương tiện sinh sống coi là được bảo đảm nếu chi phí lưu trú được trang trải bằng thu nhập được coi là thông thường từ việc làm công, hoạt động kinh doanh, lương hưu, tài sản hoặc nguồn khác.
Thu nhập ấy phải ở mức khiến người ấy không thể bị cho là sẽ cần trợ cấp sinh hoạt theo Luật số 1412/1997 hay một khoản trợ cấp tương đương. Các khoản an sinh chỉ bù đắp chi phí thì không tính là thu nhập.
Người nộp phải trình cơ quan một bản giải trình về cách phương tiện sinh sống của mình được bảo đảm.
Toàn văn bản hợp nhất không có một bảng số nào về mức tiền, nên việc không có con số ở đây là im lặng thật của đạo luật.
Con số ở bảng lựa chọn không phải ngưỡng vốn mà là mức chứng minh sinh sống do Cơ quan Di trú công bố cho năm 2026, và mức ấy có ba bậc theo nơi ở: Thu nhập ròng tối thiểu 1.210 euro mỗi tháng ở vùng thủ đô Helsinki, gồm Helsinki, Espoo, Vantaa và Kauniainen, 1.090 euro ở các đô thị lớn khác, và 1.030 euro ở các đô thị còn lại.
Số tiền phải đủ cho ít nhất một năm và phải nằm trong tài khoản ngân hàng của chính người nộp; giấy phép đầu tiên chỉ được cấp hai năm khi người nộp đủ tiền sinh sống cho hai năm. Các mức này nằm ở trang hướng dẫn của cơ quan chứ không trong Đạo luật.
Kết quả pháp lý
Thứ nhận được là một giấy phép cư trú, nhưng ai quyết cái gì mới là phần đáng đọc, và luật chia việc ấy cho hai cơ quan. Điều 83 quy định Cục Di trú cấp giấy phép nhà khởi nghiệp sau khi có lời thẩm định theo Điều 80 a, và riêng với diện này chính Cục Di trú đánh giá việc phương tiện sinh sống có được bảo đảm hay không.
Nghĩa là Business Finland phán về doanh nghiệp, còn Cục Di trú phán về tiền và là nơi đặt bút ký — một hồ sơ có thể qua được cửa này mà hỏng ở cửa kia, và hai cửa ấy nằm ở hai cơ quan không cùng ngành.
Kèm theo giấy phép có một thứ mà các bản mô tả thương mại ít nhắc tới. Điều 17 c cho phép cấp thị thực dài hạn nhằm nhập cảnh nhanh cho người đã được cấp giấy phép nhà khởi nghiệp theo Điều 80.
Danh sách được hưởng lối ấy có tám nhóm, và nhà khởi nghiệp đứng cùng hàng với chuyên gia trình độ cao theo Điều 73 và với người giữ Thẻ Xanh Liên minh châu Âu — tức nhà làm luật xếp diện này vào nhóm được ưu tiên nhập cảnh chứ không vào nhóm thường, và đó là một phần của thứ nhận được chứ không phải một dịch vụ mua thêm.
Và nếu bị từ chối thì toà nào xử đã được chỉ đích danh từ trước: Điều 192 quy định trong vụ việc về giấy phép nhà khởi nghiệp mà người nộp không cư trú tại Phần Lan, toà có thẩm quyền là Toà án Hành chính Helsinki. Người đã cư trú tại Phần Lan thì theo toà của nơi mình ở.
Thời gian xử lý công bố
Đây là một trong số ít diện mà cơ quan tự ràng buộc bằng thời hạn cứng, nhưng với giấy phép khởi nghiệp lần đầu, Điều 84 chỉ đặt một mốc chung cùng hai điều khoản nới, còn các mốc một tháng của điều ấy thuộc những loại hồ sơ khác. Mốc chung: Phải ra quyết định đối với hồ sơ thuộc chương này chậm nhất trong hai tháng kể từ khi cơ quan nhận được hồ sơ đã điền đúng cách kèm đầy đủ phụ lục.
Mốc khởi đầu được định nghĩa rất cụ thể, và đây là chỗ người nộp hay tính sai: Thời gian xử lý được tính từ khi người nộp đích thân đến cơ quan để cung cấp dữ liệu sinh trắc học theo Điều 60 d — không phải từ ngày bấm nút nộp trực tuyến. Cùng câu luật ấy còn nhắc nghĩa vụ của người nộp và người sử dụng lao động theo Điều 71, nhưng Điều 71 là điều kiện của giấy phép cư trú để làm công, nên vế ấy không chạm tới hồ sơ khởi nghiệp.
Với người nộp đang ở Việt Nam, buổi hẹn ấy diễn ra trước khi nhập cảnh: Hộ chiếu Việt Nam cần thị thực để vào Phần Lan, giấy phép khởi nghiệp lần đầu phải nộp từ nước ngoài, và Đại sứ quán Phần Lan tại Hà Nội ghi rằng dịch vụ giấy phép cư trú chỉ có tại trung tâm VFS Hà Nội, còn trung tâm tại Thành phố Hồ Chí Minh được liệt cho thị thực Schengen. Điều 60 d cho phép bên cung cấp dịch vụ bên ngoài lấy dấu vân tay, nhưng các văn bản đã đối chiếu không nói buổi hẹn tại VFS có được tính là buổi đến cơ quan để khởi đầu thời hạn hay không.
Các mốc một tháng ở khoản 2 không áp cho hồ sơ lần đầu của diện này. Quyết định bộ phận của Trung tâm Sức sống, ra trong một tháng, thuộc giấy phép doanh nhân theo Điều 79 a. Với nhà khởi nghiệp, khoản 2 chỉ chạm tới hồ sơ gia hạn: Business Finland phải đưa lời thẩm định chậm nhất trong một tháng kể từ khi Cục Di trú yêu cầu theo Điều 80 b khoản 2, và Cục Di trú phải ra quyết định chậm nhất trong một tháng sau khi nhận lời thẩm định.
Hai điều khoản nới cần đọc kèm, nếu không thì mốc hai tháng thành một lời hứa mà luật không hứa.
Thứ nhất, thời gian dài hơn là có thể trong những hoàn cảnh ngoại lệ liên quan tới tính phức tạp của việc xem xét hồ sơ. Thứ hai, và đây mới là điều khoản mạnh nhất: Nếu cơ quan có thẩm quyền phải yêu cầu hoặc phải tự thu thập thêm giải trình, thì đồng hồ ngừng chạy cho tới khi các giải trình cần thiết được cung cấp.
Ngoài ra còn một mốc nằm ở phía người nộp và thường bị bỏ sót: Lời thẩm định của Business Finland phải được cấp không quá bốn tháng trước ngày hồ sơ được đưa vào thụ lý — nên chuẩn bị quá sớm cũng hỏng như chuẩn bị quá muộn.
Ngoài thời hạn luật định, Cục Di trú có dịch vụ nhanh cho giấy phép khởi nghiệp: Giấy phép có thể được cấp trong hai tuần, nhưng chỉ khi người nộp chứng minh danh tính trong năm ngày làm việc kể từ khi nộp đơn trên Enter Finland, cơ quan không cần hỏi thêm thông tin, và hồ sơ đáp ứng điều kiện của giấy phép.
Yêu cầu cư trú thực tế
Không có nghĩa vụ đếm ngày, nhưng có một trần vắng mặt hai năm, và điều đáng ghi hơn cả trần ấy là việc luật cho người ta xin trước để nó không rơi xuống.
Trước hết là hạng giấy phép, vì nó quyết định mọi thứ sau đó: Điều 33 chia giấy phép cư trú thành có thời hạn và vĩnh viễn, và giấy có thời hạn lại chia làm loại tạm thời và loại liên tục.
Điều 80 xếp nhà khởi nghiệp vào loại liên tục — tức nhánh dẫn tới cư trú lâu dài, không phải nhánh tạm trú. Điều 53 cho phép cấp giấy phép đầu tiên theo Điều 80 với thời hạn hai năm, và Cục Di trú chỉ cấp hai năm khi người nộp đủ tiền sinh sống cho hai năm; Điều 55 đặt thời hạn tối đa bốn năm cho giấy phép gia hạn.
Điều 58 đặt hai cửa mất giấy phép và cả hai đều đo bằng việc rời khỏi nước: Giấy phép có thời hạn hoặc vĩnh viễn bị thu hồi khi người nước ngoài đã chuyển hẳn ra khỏi nước, hoặc khi người ấy đã ở liên tục hai năm ngoài lãnh thổ với ý định thường xuyên.
Hai chữ ý định thường xuyên là chỗ phải đọc kỹ: Hai năm không phải một cái bẫy đếm ngày, nó gắn với tính chất của việc vắng mặt.
Và luật để sẵn một lối chủ động: Trước khi các thời hạn ấy trôi qua, người nước ngoài có thể nộp đơn xin không thu hồi giấy phép.
Nếu đơn được chấp thuận thì chính quyết định phải ghi rõ khoảng thời gian trong đó giấy phép sẽ không bị thu hồi, và đơn có thể được chấp thuận nếu việc ở ngoài Phần Lan hoặc ngoài Liên minh là do một lý do đặc biệt hoặc ngoại lệ.
Ở phía hoạt động kinh doanh, điều kiện duy trì nằm ở Điều 80 b:
Giấy phép mới có thời hạn được cấp cho nhà khởi nghiệp đã có giấy phép theo Điều 80, để tiếp tục cùng một hoạt động kinh doanh hoặc một hoạt động tương tự, nếu hoạt động ấy có lãi, hoặc nếu mô hình kinh doanh của doanh nghiệp vẫn còn đáp ứng các điều kiện tài trợ của Business Finland.
Hai vế ấy là hai lối riêng: Có lãi thì không cần thẩm định lại mô hình, và chưa có lãi thì vẫn còn một lối nếu mô hình vẫn đứng.
Người phụ thuộc được kèm
Điều khoản về người phụ thuộc của diện này chỉ dài một câu, nhưng câu ấy mạnh hơn phần lớn các diện khác trong bảng: Điều 80 quy định rằng thành viên gia đình của nhà khởi nghiệp đáp ứng điều kiện cũng được cấp giấy phép cư trú liên tục, và được cấp dù đơn nộp tại Phần Lan hay ở nước ngoài.
Hai điểm đáng chú ý nằm trong đúng câu ấy. Thứ nhất, người thân nhận cùng hạng giấy phép với người chính chứ không nhận một hạng thấp hơn.
Thứ hai, việc cho nộp từ trong nước nghĩa là gia đình không buộc phải tách ra và chờ ở nước ngoài. Phạm vi ai là thành viên gia đình do Điều 37 định nghĩa, và định nghĩa ấy rộng hơn cách hiểu thông thường ở ba chỗ.
Nhóm căn bản gồm vợ hoặc chồng của người đang cư trú tại Phần Lan, cùng con chưa kết hôn dưới 18 tuổi mà người giám hộ là người ấy hoặc là vợ chồng của người ấy; nếu người đang cư trú tại Phần Lan lại là trẻ chưa thành niên thì thành viên gia đình chính là người giám hộ của em.
Mở rộng thứ nhất: Người cùng giới cũng được coi là thành viên gia đình nếu quan hệ bạn đời đã được đăng ký ở cấp quốc gia.
Mở rộng thứ hai: Những người sống chung liên tục trong một hộ gia đình theo cách như vợ chồng được coi ngang với vợ chồng, không phân biệt giới tính, với điều kiện đã sống cùng nhau tối thiểu hai năm — và thời gian hai năm ấy không được đòi nếu hai người có con chung đang cùng nuôi dưỡng, hoặc nếu có một lý do quan trọng khác.
Mở rộng thứ ba, hẹp và có điều kiện chặt. Con nuôi thực tế dưới 18 tuổi, chưa kết hôn, đang thực sự được người giám hộ nuôi dưỡng và đang cần sự nuôi dưỡng ấy vào ngày ra quyết định về hồ sơ, nhưng không có được giấy tờ chính thức về quan hệ giám hộ, được coi ngang với con.
Điều kiện là có chứng cứ đáng tin rằng những người giám hộ trước đó đã chết hoặc mất tích, và rằng quan hệ nuôi dưỡng thực tế đã tồn tại trước khi người bảo lãnh tới Phần Lan.
Số nước miễn thị thực
Tư cách mà chương trình này cấp, dù là thị thực hay thẻ cư trú, không thay hộ chiếu của người giữ. Người giữ vẫn đi lại bằng hộ chiếu của nước mình, nên con số dưới đây là của hộ chiếu Phần Lan và chỉ trở thành của người giữ khi họ được cấp hộ chiếu Phần Lan.
Theo Passport Index của Prosperous Intelligence, dữ liệu ngày 30/09/2026, hộ chiếu Phần Lan tới được 203 điểm đến mà không cần xin thị thực lãnh sự trước. Con số ấy gộp ba hình thức nhập cảnh và không tính thị thực điện tử phải xin trước:
| Hình thức nhập cảnh | Số điểm đến |
|---|---|
| Miễn thị thực | 169 |
| Thị thực cấp tại cửa khẩu | 24 |
| Giấy phép du lịch điện tử (eTA) | 10 |
| Cộng, là con số của Passport Index | 203 |
| Thị thực điện tử phải xin trước, không cộng | 31 |
Vì vậy đây là thước đo mức đi lại thuận tiện, không phải số nước miễn thị thực theo nghĩa hẹp.
Để đối chiếu, cùng nguồn và cùng cách đếm, hộ chiếu Việt Nam tới được 44 điểm đến. Hai danh sách điểm đến không lồng vào nhau, nên hiệu số chỉ là chỉ dấu chứ không phải danh sách những nơi được mở thêm.
Prosperous Intelligence ghi ngày cho dữ liệu và khuyến nghị xác minh với cơ quan chính thức của nước đến trước khi đi.
Nghĩa vụ thuế phát sinh
Điều luật lập ra diện này không có một chữ nào về thuế, và chỗ đáng giá là sự im lặng ấy nằm cạnh một điều khoản không im lặng.
Giấy phép cư trú khởi nghiệp nằm ở Điều 80 Luật Người nước ngoài, cùng Điều 80a về ý kiến của cơ quan tài trợ đổi mới và Điều 80b về giấy phép tiếp theo.
Điều kiện là hoạt động toàn thời gian ở vị trí chịu trách nhiệm trong doanh nghiệp đăng ký tại Phần Lan, mô hình kinh doanh đạt chuẩn tài trợ của cơ quan ấy, và sinh kế được bảo đảm theo Điều 39.
Đọc trọn cả ba điều thì không có điều khoản thuế nào. Trong đạo luật sửa đổi năm 2023 đặt ba điều ấy vào luật, chỗ duy nhất nhắc tới thuế không nằm ở Điều 80.
Nó nằm ở Điều 79a khoản 1 điểm 4, thuộc giấy phép doanh nhân thông thường, nơi điều kiện được viết rõ: Hoạt động kinh doanh không được vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ luật định nộp thuế hoặc các khoản phải nộp.
Tức trong cùng một chương, nhà làm luật đã viết điều kiện tuân thủ thuế cho một diện và không viết cho diện kia; văn bản không nói lý do khác biệt.
Về chế độ ưu đãi, Phần Lan có một đạo luật riêng cho chuyên gia nước ngoài, và định nghĩa của nó loại diện này ra theo đúng mô-típ đã gặp ở Hà Lan.
Đạo luật về thuế khấu trừ tại nguồn đối với người làm công đến từ nước ngoài đánh thuế trên thu nhập tiền lương. Điều 2 định nghĩa người thụ hưởng là người làm công hưởng lương đến từ nước ngoài với bốn điều kiện cùng lúc.
Theo bản hợp nhất hiện hành, bốn điều kiện ấy là: Trở thành đối tượng chịu thuế toàn phần tại Phần Lan khi bắt đầu công việc; tiền lương bằng tiền tối thiểu 5.800 euro mỗi tháng suốt thời gian làm việc; làm công việc đòi hỏi chuyên môn đặc biệt; và không là đối tượng chịu thuế toàn phần tại Phần Lan trong năm năm dương lịch trước năm bắt đầu công việc. Luật 1144/2025 bỏ điều kiện không phải công dân Phần Lan đối với công việc bắt đầu từ 01/01/2026.
Toàn bộ đạo luật ấy không nhắc tới doanh nhân hay hoạt động kinh doanh. Cơ chế dựng hoàn toàn trên quan hệ lao động hưởng lương, nên người tự lập doanh nghiệp theo Điều 80 không thuộc diện, trừ phi tự trả cho mình tiền lương đạt ngưỡng và thoả cả bốn điều kiện.
Theo Điều 3 của bản hợp nhất hiện hành, thuế khấu trừ là 25% trên tiền lương trả từ 01/01/2026, thu như thuế cuối cùng bằng cách người sử dụng lao động khấu trừ khi trả lương.
Về tầng hai, cơ quan thuế Phần Lan cho ranh giới cư trú: Chịu thuế toàn phần khi Phần Lan là nơi ở thường xuyên, hoặc khi lưu lại quá sáu tháng liên tục — và trang nói rõ rằng không coi trọng lý do có mặt, tức lý do cư trú không làm đổi phép tính.
Người cư trú thuế nộp thuế trên thu nhập toàn cầu, người không cư trú chỉ nộp trên thu nhập phát sinh tại Phần Lan; và ở đúng sáu tháng thì vẫn là người không cư trú.
Phải nói rõ một phép ghép: Giấy phép theo Điều 80 được cấp dạng liên tục, nên người giữ nó ở lại quá sáu tháng sẽ thành cư trú thuế toàn phần theo luật chung — nhưng không văn bản nào đã mở nói câu ấy; đó là suy ra từ hai quy định độc lập.
Đọc ô này đúng phạm vi: Không có ưu đãi thuế nào gắn với giấy phép Điều 80, không có nghĩa vụ báo cáo thuế riêng cho người giữ nó, và không có ngưỡng ngày cư trú nào viết trong luật người nước ngoài
Chi phí bắt buộc ngoài khoản đầu tư
Đạo luật gần như không nói về tiền và không chứa biểu phí: Biểu phí nằm ở Nghị định 1336/2025 của Bộ Nội vụ về phí dịch vụ của Cục Di trú năm 2026, có hiệu lực từ 01/01/2026 đến hết năm 2026.
Theo phụ lục nghị định ấy, đơn xin giấy phép khởi nghiệp lần đầu có lệ phí 650 euro nếu nộp điện tử và 800 euro nếu nộp giấy; đơn xin giấy phép gia hạn 230 euro nếu nộp điện tử và 430 euro nếu nộp giấy; đơn xin thị thực dài hạn D 95 euro nếu nộp điện tử và 120 euro nếu nộp giấy.
Thứ đạo luật có đặt là bốn nghĩa vụ tốn tiền nhưng không niêm yết giá, và bỏ sót chúng khi lập dự toán là thiếu cả một phần đáng kể. Thứ nhất và nặng nhất: Lời thẩm định của Business Finland.
Nó bắt buộc phải kèm theo hồ sơ, nó dựa trên quyền xét đoán của cơ quan ấy theo Điều 80 a, và theo Điều 80 khoản 2 nó phải được cấp không quá bốn tháng trước khi hồ sơ cư trú được nộp — nghĩa là chi phí chuẩn bị hồ sơ xin thẩm định là một khoản riêng, đứng trước cả hồ sơ cư trú, và có thể phải làm lại nếu hồ sơ cư trú không nộp kịp trong bốn tháng ấy.
Thứ hai: Phải đích thân có mặt. Điều 84 nói thời gian xử lý chỉ bắt đầu tính khi người nộp trực tiếp đến cơ quan để cung cấp dữ liệu sinh trắc học theo Điều 60 d, nên chi phí đi lại và có mặt là bắt buộc chứ không phải tuỳ chọn.
Thứ ba: Bản giải trình về phương tiện sinh sống theo Điều 39, do chính người nộp phải lập và trình. Thứ tư: Thẻ giấy phép cư trú theo Điều 33 a, cấp cho đúng thời hạn hiệu lực của giấy phép và theo mẫu thống nhất của Liên minh châu Âu, nên mỗi lần gia hạn là một lần cấp thẻ mới.
Lựa chọn đầu tư
| Lựa chọn | Ngưỡng | Loại hình | Trạng thái |
|---|---|---|---|
| Thu nhập ròng tối thiểu, thay đổi theo nơi cư trú: 1.210 euro mỗi tháng ở vùng thủ đô Helsinki, 1.090 euro ở các đô thị lớn khác và 1.030 euro ở các đô thị còn lại (mức năm 2026), đủ cho ít nhất một năm | 1.030 EUR/tháng | Khác | Đang mở |