Thị thực nhà đầu tư Úc thuộc Chương trình Đổi mới và Đầu tư Kinh doanh (BIIP, hạng 188) đã đóng vĩnh viễn với hồ sơ mới từ năm 2024; khi còn mở, nhánh Nhà đầu tư đòi đầu tư tối thiểu 2,5 triệu đô la Úc theo đề cử của bang hoặc vùng lãnh thổ (1,5 triệu với người được mời trước 01/07/2021), kèm tối thiểu 65 điểm và tài sản ròng riêng từ 2,5 triệu. Hồ sơ nộp trước mốc đóng vẫn được xét theo hạn ngạch và thứ tự ưu tiên, và theo Prosperous Intelligence, hộ chiếu Úc, chỉ cấp cho công dân, tới được 196 điểm đến không cần xin thị thực lãnh sự trước.
Tổng quan chương trình
- Tên chính thức chương trình: Business Innovation and Investment Program (BIIP, subclass 188 / SIV)
- Website: immi.homeaffairs.gov.au
- Cơ quan quản lý: Department of Home Affairs
Ngưỡng vốn tối thiểu
Ba điều kiện chồng lên nhau chứ không một. Thứ nhất, phải được một cơ quan chính quyền bang hoặc vùng lãnh thổ đề cử để đầu tư tối thiểu 2,5 triệu đô la Úc theo các yêu cầu riêng, nếu được mời nộp hồ sơ từ ngày 01/07/2021 trở đi; người được mời trước ngày ấy chịu mức 1,5 triệu đô la Úc đầu tư tại một bang hoặc vùng lãnh thổ của Úc.
Thứ hai, phải đạt tối thiểu 65 điểm trên thang điểm xét duyệt. Thứ ba, phải có tài sản ròng gồm tài sản kinh doanh, tài sản đầu tư và tài sản cá nhân tối thiểu 2,5 triệu đô la Úc — tức ngưỡng tài sản đứng riêng, không phải cùng khoản tiền dùng để đầu tư.
Nhưng ngưỡng nặng nhất không phải con số mà là nghĩa vụ giữ. Người được mời từ 01/07/2021 phải thực hiện một khoản đầu tư trọng yếu hợp chuẩn tối thiểu 2,5 triệu đô la Úc và phải nắm giữ các khoản đầu tư hợp chuẩn ấy liên tục trong suốt thời gian tấm thị thực tạm còn hiệu lực.
Được phép chuyển đổi giữa các khoản đầu tư hợp chuẩn, nhưng chỉ khi thoả cả hai điều kiện: Tái đầu tư số tiền rút ra vào các khoản hợp chuẩn khác trong ba mươi ngày, và số rút ra bằng hoặc nhỏ hơn số tái đầu tư, bất kể lãi lỗ do biến động thị trường.
Tái đầu tư đúng trong ba mươi ngày thì cơ quan tính là nắm giữ liên tục. Riêng tiền rút ra từ các khoản đầu tư vào quỹ đầu tư mạo hiểm hoặc doanh nghiệp mới nổi thì bắt buộc tái đầu tư trở lại đúng vào quỹ đầu tư mạo hiểm hoặc doanh nghiệp mới nổi. Dòng thị thực này đã đóng nhận hồ sơ mới từ ngày 31/07/2024
Kết quả pháp lý
Chương trình đã đóng vĩnh viễn với hồ sơ mới từ ngày 31/07/2024, và câu quan trọng nhất của cơ quan không nằm ở việc đóng mà nằm ở cách xử lý phần còn lại. Bộ Nội vụ nói sẽ tiếp tục xét các hồ sơ nộp trước mốc ấy, nhưng xét theo các mức kế hoạch của Chương trình Di trú thường trú và theo thứ tự ưu tiên xử lý thị thực diện tay nghề.
Đó là một câu ràng buộc chứ không phải một lời trấn an: Hồ sơ cũ vẫn chạy, nhưng chúng xếp hàng trong một hệ thống hạn ngạch và ưu tiên mà diện đầu tư không còn đứng đầu, nên không có mốc thời gian nào suy ra được từ việc mình đã nộp sớm.
Với người đang ở Úc, cơ quan còn cảnh báo một điều dễ bỏ qua khi cân nhắc rút hồ sơ để lấy lại phí: Việc rút hồ sơ có thể ảnh hưởng tới tình trạng thị thực hiện có, nên quyết định rút không chỉ là một phép tính tiền.
Thời gian xử lý công bố
Cơ quan không công bố một mốc xử lý nào cho diện này, và cách họ nói điều đó đáng chép nguyên vì nó khác hẳn một lời hứa: Muốn biết thời gian thì dùng công cụ tra thời gian xử lý, công cụ ấy cho thấy thời gian của những hồ sơ đã được quyết gần đây, và cơ quan ghi thẳng rằng đó chỉ là một chỉ dẫn và không riêng cho hồ sơ của bạn.
Nghĩa là con số duy nhất có được là một con số nhìn lui về các hồ sơ của người khác, không phải một cam kết cho hồ sơ của mình.
Và ở diện này, con số nhìn lui ấy còn mất thêm giá trị vì một lý do cấu trúc: Dòng thị thực đã đóng nhận hồ sơ mới từ 31/07/2024, và hồ sơ nộp trước mốc ấy tuy vẫn được xét nhưng bị đặt vào một hàng đợi có hạn ngạch và có thứ tự ưu tiên, mà diện đầu tư không còn đứng đầu.
Câu ràng buộc ấy, kèm hai thứ nó viện dẫn, ghi ở ô kết quả của bảng này.
Một hàng đợi chịu hạn ngạch và chịu thứ tự ưu tiên thì thời gian của những hồ sơ quyết trước đó không nói được gì về hồ sơ quyết sau.
Mốc duy nhất mà cơ quan in thành con số là trần lưu trú: tới năm năm. Bậc thang đầy đủ của trần ấy theo thời điểm được mời, cùng nghĩa vụ hai năm sống tại chính bang đã nhận khoản đầu tư, ghi ở ô cư trú của bảng này.
Yêu cầu cư trú thực tế
Tấm thị thực tạm này không đặt số ngày phải có mặt: Người giữ được ra vào Úc bao nhiêu lần tuỳ ý trong thời gian thị thực còn hiệu lực, vì thị thực cấp dạng nhiều lần nhập cảnh. Nhưng có một câu quan trọng đi kèm: Thời gian ở ngoài Úc không kéo dài thời hạn thị thực.
Nghĩa vụ cư trú thật nằm ở lộ trình sang thường trú. Muốn đủ điều kiện được cấp thị thực Đổi mới và Đầu tư Kinh doanh (Thường trú) hạng 888 dòng Investor, đương sự phải sống tại chính bang hoặc vùng lãnh thổ nơi mình đã thực hiện khoản đầu tư được chỉ định, tối thiểu hai năm, và hai năm ấy phải nằm trong thời gian thị thực tạm còn hiệu lực.
Thời hạn của thị thực tạm phụ thuộc thời điểm được mời: Tới năm năm nếu được mời từ 01/07/2021; bốn năm ba tháng nếu nộp sau 01/07/2015 nhưng được mời trước 01/07/2021; và bốn năm nếu nộp trước 01/07/2015. Thị thực có hiệu lực từ ngày được cấp.
Đây là thị thực tạm nên muốn ở lâu hơn thì phải xin một thị thực mới. Về nghĩa vụ trong thời gian giữ thị thực, đương sự và các thành viên gia đình cùng hồ sơ phải tuân thủ mọi điều kiện của thị thực và pháp luật Úc, và cơ quan nêu riêng hai việc: Cam kết tiếp tục duy trì khoản đầu tư, và tuân thủ pháp luật Úc về quan hệ lao động.
Về y tế, cơ quan nói rõ đương sự chịu trách nhiệm cá nhân cho toàn bộ chi phí chăm sóc sức khoẻ của mình khi ở Úc và khuyến nghị mua bảo hiểm; thị thực Úc là thị thực số, không dán nhãn vào hộ chiếu mà nối bản ghi điện tử với hộ chiếu
Người phụ thuộc được kèm
Con và vợ chồng đi hai đường khác nhau, và chênh lệch giữa hai đường là chỗ dễ vấp nhất. Con phụ thuộc có thể được thêm vào hồ sơ bất kỳ lúc nào trước khi cơ quan ra quyết định, với điều kiện đáp ứng yêu cầu về sức khoẻ và, nếu áp dụng, về nhân thân.
Còn vợ, chồng hoặc bạn đời chung sống thực tế của đương đơn chính mà không nộp chung ngay từ lần nộp hồ sơ hạng 188 ban đầu thì phải làm một hồ sơ riêng gọi là hồ sơ người vào sau, và hồ sơ ấy chỉ được cấp sau khi thị thực hạng 188 của đương đơn chính đã được cấp.
Tức người bỏ lỡ lần nộp chung không thể đi cùng chuyến mà phải đợi hết cả quy trình của người bảo lãnh.
Hồ sơ người vào sau nộp trực tuyến qua ImmiAccount bằng biểu mẫu riêng, và có thu phí.
Một điều khoản ít ai để ý và có thể chặn cả hồ sơ chính: Để đương đơn chính được cấp thị thực, những thành viên gia đình không đi Úc vẫn phải đáp ứng yêu cầu về nhân thân, và có thể phải đáp ứng cả yêu cầu về sức khoẻ — nghĩa là người ở lại nước nhà vẫn nằm trong phạm vi thẩm tra.
Về chi phí, mỗi thành viên gia đình cùng nộp chịu một khoản phí riêng bên cạnh mức từ 12.505 đô la Úc của đương đơn chính, và khoản phí đợt hai áp cho bất kỳ người nào từ mười tám tuổi trở lên có trình độ tiếng Anh dưới mức chức năng, ở mức 9.795 đô la Úc cho đương đơn chính và 4.890 đô la Úc cho thành viên gia đình.
Khoản này chỉ nộp khi cơ quan yêu cầu, và được hoàn lại nếu thị thực không được cấp
Số nước miễn thị thực
Tư cách mà chương trình này cấp, dù là thị thực hay thẻ cư trú, không thay hộ chiếu của người giữ. Người giữ vẫn đi lại bằng hộ chiếu của nước mình, nên con số dưới đây là của hộ chiếu Úc và chỉ trở thành của người giữ khi họ được cấp hộ chiếu Úc.
Theo Passport Index của Prosperous Intelligence, dữ liệu ngày 30/09/2026, hộ chiếu Úc tới được 196 điểm đến mà không cần xin thị thực lãnh sự trước. Con số ấy gộp ba hình thức nhập cảnh và không tính thị thực điện tử phải xin trước:
| Hình thức nhập cảnh | Số điểm đến |
|---|---|
| Miễn thị thực | 162 |
| Thị thực cấp tại cửa khẩu | 27 |
| Giấy phép du lịch điện tử (eTA) | 7 |
| Cộng, là con số của Passport Index | 196 |
| Thị thực điện tử phải xin trước, không cộng | 35 |
Vì vậy đây là thước đo mức đi lại thuận tiện, không phải số nước miễn thị thực theo nghĩa hẹp.
Để đối chiếu, cùng nguồn và cùng cách đếm, hộ chiếu Việt Nam tới được 44 điểm đến. Hai danh sách điểm đến không lồng vào nhau, nên hiệu số chỉ là chỉ dấu chứ không phải danh sách những nơi được mở thêm.
Prosperous Intelligence ghi ngày cho dữ liệu và khuyến nghị xác minh với cơ quan chính thức của nước đến trước khi đi.
Nghĩa vụ thuế phát sinh
Trang chương trình của Bộ Nội vụ có đúng một câu về thuế, và câu ấy không hứa hẹn gì: Thu nhập mà bạn kiếm được từ khoản đầu tư của mình tại Úc chịu sự điều chỉnh của pháp luật thuế Úc.
Câu ấy nằm trong mục những việc phải làm khi giữ thị thực, ngay dưới tiểu mục về duy trì khoản đầu tư, nơi quy định rằng đương sự phải giữ khoản đầu tư đáng kể đủ điều kiện liên tục trong suốt thời hạn của thị thực tạm.
Không có ưu đãi, không có ngưỡng, không có chế độ riêng nào khác được nêu trên trang.
Bối cảnh cần biết để đọc ô này cho đúng: Luồng Nhà đầu tư đã đóng nhận hồ sơ mới từ 31/07/2024, hồ sơ nộp trước ngày ấy vẫn được xử lý tiếp, và hồ sơ rút sau ngày ấy được hoàn lệ phí xin thị thực.
Các thông số còn lại của luồng: Mức đầu tư ít nhất 2.500.000 đô la Úc theo đề cử của cơ quan chính quyền bang hoặc vùng lãnh thổ, nếu được mời từ 01/07/2021; lệ phí xin thị thực từ 12.505 đô la Úc; thời hạn lưu trú tối đa năm năm, trang ghi bốn năm ba tháng, còn hồ sơ nộp trước 01/07/2015 là bốn năm.
Về vị thế thuế của người giữ thị thực, Sở Thuế vụ Úc đặt ra khái niệm cư dân tạm thời: Một người là cư dân tạm thời nếu giữ thị thực tạm và bản thân cùng vợ hoặc chồng không phải là thường trú nhân Úc theo nghĩa của Đạo luật An sinh Xã hội 1991.
Người là cư dân tạm thời chỉ phải khai thu nhập phát sinh tại Úc, lãi vốn trên tài sản Úc thuộc diện chịu thuế, và trong một số trường hợp là thu nhập từ lao động hoặc dịch vụ thực hiện ở nước ngoài; thu nhập nước ngoài khác và lãi vốn trên tài sản không thuộc diện tài sản Úc chịu thuế thì không phải khai.
Cần giữ đúng một ranh giới ở đây, và đây là chỗ dễ nói quá: Trang của sở thuế vụ không nêu đích danh diện 188 — nó chỉ nêu điều kiện là có thị thực tạm. Ô này không suy hộ rằng mọi người giữ 188 đều là cư dân tạm thời; đó là kết luận phải rút từ hoàn cảnh của từng người.
Đọc ô này đúng phạm vi: Nguồn nói về nghĩa vụ giữ khoản đầu tư và việc thu nhập từ khoản ấy chịu luật thuế Úc; nó không cho thuế suất, không nêu ngưỡng ngày cư trú, không nói về thuế tài sản hay thừa kế, và không nói gì về các luồng 188 khác
Chi phí bắt buộc ngoài khoản đầu tư
Chi phí của diện này có ba tầng, và tầng thứ ba là tầng mà chính công cụ tính giá của cơ quan không tính.
Tầng một là lệ phí nộp đơn, từ 12.505 đô la Úc cho đương đơn chính, cộng một khoản riêng cho mỗi thành viên gia đình cùng nộp và một khoản đợt hai cho người từ mười tám tuổi có trình độ tiếng Anh dưới mức chức năng — các mức ấy cùng điều kiện hoàn lại ghi ở ô người phụ thuộc của bảng này.
Tầng hai là một khoản giảm mới mà bản chào cũ không có: Từ ngày 01/07/2026, một mức lệ phí thấp hơn áp cho công dân đủ điều kiện của các đảo Thái Bình Dương và Timor-Leste nộp hồ sơ hợp lệ.
Cơ quan thu mức thấp ấy ngay trong quá trình nộp qua ImmiAccount, và nhận diện người đủ điều kiện bằng chính hộ chiếu của nước được nêu dùng trong hồ sơ; thành viên gia đình cũng được hưởng mức thấp, và việc đó căn theo hộ chiếu của đương đơn chính chứ không theo hộ chiếu của từng người.
Tầng ba là những khoản không có giá niêm yết, và cơ quan tự cảnh báo hai lần: Công cụ tính giá thị thực không tính khoản đợt hai và các chi phí khác; còn các chi phí khác thì họ kể tên ba thứ — khám sức khoẻ, lý lịch tư pháp và sinh trắc học.
Về chiều tiền đi ngược, trang đóng chương trình và hoàn phí cho biết người rút hồ sơ từ 31/07/2024 trở đi có thể được hoàn Phí Nộp đơn Thị thực của diện 188 ở bốn luồng, không hoàn cho hai luồng gia hạn, và diện Tài năng Doanh nghiệp 132 cũng được hoàn ở hai luồng với cùng điều kiện rút.
Cơ quan không đặt mốc thời gian chuẩn nào cho việc xử lý yêu cầu hoàn phí, mỗi yêu cầu xét riêng.
Lựa chọn đầu tư
| Lựa chọn | Ngưỡng | Loại hình | Trạng thái |
|---|---|---|---|
| Nhánh Nhà đầu tư, đầu tư tối thiểu 2,5 triệu đô la Úc theo đề cử của bang hoặc vùng lãnh thổ | 2.500.000 AUD | Khác | Đã đóng 31/07/2024 |