Thuỵ Sĩ có thể cấp, theo quyền tuỳ nghi của bang, khi có lợi ích tài khoá đáng kể và phải được Ban Thư ký Di trú Nhà nước chấp thuận, giấy phép cư trú cho người nước ngoài không hoạt động sinh lợi trong nước, chịu thuế theo chi tiêu trên cơ sở hằng năm tối thiểu 435.000 franc. Thuế theo Federal Act on Direct Federal Taxation, Article 14, đương đơn phải chuyển trung tâm đời sống sang Thuỵ Sĩ, và theo Prosperous Intelligence, hộ chiếu Thuỵ Sĩ, cấp cho công dân, không cho người giữ giấy phép, tới được 200 điểm đến không cần xin thị thực lãnh sự trước.
Tổng quan chương trình
- Tên chính thức chương trình: Taxation based on expenditure (Federal Act on Direct Federal Taxation, Article 14)
- Website: sem.admin.ch
- Cơ quan quản lý: Cantonal migration authorities, with approval of the State Secretariat for Migration (SEM)
Ngưỡng vốn tối thiểu
Ngưỡng của diện này không phải một khoản đầu tư mà là một mức sàn để tính thuế, và nhầm hai thứ ấy là hiểu sai toàn bộ cấu trúc: Người nộp không bỏ tiền vào đâu cả, họ cam kết bị đánh thuế trên một cơ sở tối thiểu.
Điều 14 Luật Thuế Liên bang Trực thu quy định mức ấy tại khoản 3, và cách viết của nó quan trọng ngang con số: Thuế tính theo chi phí sinh hoạt hằng năm phát sinh trong và ngoài Thuỵ Sĩ của người nộp cùng những người họ nuôi dưỡng, nhưng tối thiểu là số cao nhất trong bốn con số sau.
Điểm a là con số tuyệt đối: 435.000 franc. Điểm b áp cho người có hộ riêng: Bảy lần tiền thuê nhà hằng năm hoặc giá trị thuê theo Điều 21 khoản 1 điểm b. Điểm c áp cho những người còn lại: Ba lần giá trọ ăn ở hằng năm tại nơi lưu trú.
Điểm d là tổng thu nhập gộp từ sáu nhóm nguồn tại Thuỵ Sĩ, gồm bất động sản, động sản, vốn đầu tư kể cả khoản nợ có bảo đảm bằng bất động sản, quyền tác giả và bằng sáng chế khai thác tại Thuỵ Sĩ, lương hưu và trợ cấp từ nguồn Thuỵ Sĩ, và các khoản thu nhập mà người nộp xin miễn giảm thuế nước ngoài theo hiệp định tránh đánh thuế hai lần.
Vì luật lấy số cao nhất nên 435.000 là sàn chứ không phải mức phải trả: Ai thuê nhà 80.000 franc một năm thì cơ sở tính thuế là 560.000, không phải 435.000.
Và con số ấy không đứng yên — khoản 6 giao Bộ Tài chính Liên bang điều chỉnh mức ở điểm a theo Chỉ số giá tiêu dùng toàn quốc, nên mọi tài liệu ghi 400.000 franc là tài liệu của một kỳ chỉ số đã qua.
Ba điều kiện tư cách ở khoản 1 mới là cửa hẹp thật, và điều kiện thứ ba loại bỏ phần lớn người quan tâm: Không mang quốc tịch Thuỵ Sĩ; lần đầu chịu thuế không giới hạn, hoặc sau ít nhất mười năm gián đoạn; và không thực hiện hoạt động sinh lợi tại Thuỵ Sĩ.
Khoản 2 khoá thêm một tầng: Vợ chồng sống chung hợp pháp và trên thực tế thì cả hai đều phải đáp ứng đủ ba điều kiện ấy.
Kết quả pháp lý
Thứ nhận được là một giấy phép cư trú do bang cấp, không phải một tư cách thuế — và câu đáng đọc nhất của chỉ thị là lời đồng ý của bang không phải quyết định.
Cơ quan bang thông báo cho người nộp bằng văn bản rằng họ muốn chấp thuận đơn và rằng họ vẫn phải trình hồ sơ lên Ban Thư ký Di trú Nhà nước để xin chấp thuận; theo Điều 86 khoản 1 VZAE, Ban ấy có thể từ chối chấp thuận, giới hạn thời gian, hoặc kèm điều kiện và nghĩa vụ.
Nghĩa là một bang muốn nhận không đủ để thành giấy phép, và thứ cuối cùng nhận được có thể ngắn hơn hoặc chặt hơn thứ bang định cho.
Khái niệm mở cửa cho diện này cũng không phải một tiêu chí đo được: Chỉ thị gọi cụm lợi ích công quan trọng ở Điều 30 khoản 1 chữ b Luật Người nước ngoài và Điều 32 VZAE là một khái niệm pháp lý không xác định, và nói thẳng rằng giải thích quá rộng là không tương thích với mục đích của chính Luật và Nghị định ấy.
Còn một dữ kiện phủ định phải ghi vì nó đắt: Đối với lộ trình lợi ích văn hoá, chỉ thị nêu rõ một khoản hiến tặng lớn, riêng nó, là không đủ để lập nên một lợi ích văn hoá đáng kể cho việc cấp giấy phép cư trú — dẫn chiếu trả lời của Hội đồng Liên bang cho chất vấn Fathi ngày 30/09/2016. Tiền mở được lộ trình tài khoá; nó không mở được lộ trình văn hoá.
Thời gian xử lý công bố
Việc bảo lãnh thân nhân phải được nêu trong vòng năm năm; riêng con trên 12 tuổi thì trong vòng 12 tháng. Mốc tính theo tuổi của đứa trẻ tại thời điểm nộp đơn, và quyền không mất đi nếu trẻ đạt tuổi ấy trong lúc thủ tục đang chạy.
Quy tắc chuyển tiếp: Nếu đứa trẻ tròn 12 tuổi trong thời hạn năm năm, thì từ thời điểm ấy áp thời hạn một năm, với điều kiện chưa quá bốn năm kể từ đầu thời hạn năm năm; nếu đã quá bốn năm thì phải nộp trước khi hết hạn năm năm ban đầu.
Thời hạn một năm không phải là thời hạn cộng thêm mà là sự rút ngắn của thời hạn năm năm. Quá hạn thì chỉ được chấp thuận khi viện dẫn được lý do gia đình quan trọng
Yêu cầu cư trú thực tế
Đương đơn phải chứng minh được rằng mình chuyển trung tâm đời sống sang Thuỵ Sĩ và sẽ lưu lại Thuỵ Sĩ trong phần lớn thời gian. Kèm theo đó là một hạn chế nặng: Khi được nhận vào vì lợi ích tài khoá đáng kể của bang theo Điều 32 khoản 1 chữ c VZAE, mọi hoạt động sinh lợi chỉ được thực hiện ở nước ngoài, theo Điều 32 khoản 2 VZAE.
Ngoại lệ duy nhất là việc quản lý tài sản của chính mình. Diện nhận vào vì lý do văn hoá hay chính trị nhà nước thì ngược lại, được phép hành nghề tại Thuỵ Sĩ.
Việc cấp là quyền tuỳ nghi của bang chứ không phải một quyền được hưởng. Hướng dẫn của Cơ quan Di trú Liên bang dẫn phán quyết ngày 11/06/2024 của Toà Hành chính Liên bang để nói rằng cơ quan có phạm vi tuỳ nghi rộng.
Lợi ích tài khoá của bang còn phải cân với lợi ích công của Thuỵ Sĩ trong việc giữ uy tín. Cơ quan phải xét mọi hoàn cảnh của từng hồ sơ, và hướng dẫn nêu riêng trường hợp người thuộc diện bị trừng phạt theo các gói trừng phạt của Liên minh châu Âu mà Thuỵ Sĩ tham gia.
Về vắng mặt, hướng dẫn nêu quy tắc chung: Giấy phép chấm dứt khi người giữ thực tế ở nước ngoài sáu tháng. Những chuyến về ngắn không cắt quãng sáu tháng ấy nếu trung tâm đời sống đã chuyển ra nước ngoài.
Người phụ thuộc được kèm
Người giữ giấy phép cư trú được cơ quan bang cho phép bảo lãnh vợ hoặc chồng và con chưa kết hôn dưới 18 tuổi theo Điều 44 Luật Người nước ngoài, nhưng không có quyền pháp lý đối với việc ấy và từng bang được đặt điều kiện ngặt hơn.
Bốn điều kiện: Cả gia đình phải sống chung, phải có chỗ ở tương xứng không quá tải, phải có tài chính bảo đảm không rơi vào diện trợ giúp xã hội và người bảo lãnh không đang hưởng trợ cấp bổ sung, và người vợ hoặc chồng được bảo lãnh phải giao tiếp được bằng ngôn ngữ quốc gia nói tại nơi cư trú ở mức tối thiểu A1.
Chưa đạt A1 thì nộp bằng chứng đã ghi danh một khoá học dẫn tới mức ấy, chậm nhất khi đăng ký tại Thuỵ Sĩ, và phải chứng minh đạt A1 chậm nhất khi gia hạn giấy phép
Số nước miễn thị thực
Tư cách mà chương trình này cấp, dù là thị thực hay thẻ cư trú, không thay hộ chiếu của người giữ. Người giữ vẫn đi lại bằng hộ chiếu của nước mình, nên con số dưới đây là của hộ chiếu Thụy Sĩ và chỉ trở thành của người giữ khi họ được cấp hộ chiếu Thụy Sĩ.
Theo Passport Index của Prosperous Intelligence, dữ liệu ngày 30/09/2026, hộ chiếu Thụy Sĩ tới được 200 điểm đến mà không cần xin thị thực lãnh sự trước. Con số ấy gộp ba hình thức nhập cảnh và không tính thị thực điện tử phải xin trước:
| Hình thức nhập cảnh | Số điểm đến |
|---|---|
| Miễn thị thực | 166 |
| Thị thực cấp tại cửa khẩu | 23 |
| Giấy phép du lịch điện tử (eTA) | 11 |
| Cộng, là con số của Passport Index | 200 |
| Thị thực điện tử phải xin trước, không cộng | 33 |
Vì vậy đây là thước đo mức đi lại thuận tiện, không phải số nước miễn thị thực theo nghĩa hẹp.
Để đối chiếu, cùng nguồn và cùng cách đếm, hộ chiếu Việt Nam tới được 44 điểm đến. Hai danh sách điểm đến không lồng vào nhau, nên hiệu số chỉ là chỉ dấu chứ không phải danh sách những nơi được mở thêm.
Prosperous Intelligence ghi ngày cho dữ liệu và khuyến nghị xác minh với cơ quan chính thức của nước đến trước khi đi.
Nghĩa vụ thuế phát sinh
Cơ sở pháp lý của diện cư trú này là Điều 30 khoản 1 chữ b Luật Người nước ngoài và Điều 32 Nghị định VZAE: Các bang được cấp giấy phép cư trú khi đương đơn chứng minh được có lợi ích văn hoá, lợi ích chính trị nhà nước quan trọng, hoặc lợi ích tài khoá đáng kể.
Đây là điều khoản "có thể" chứ không phải điều khoản "phải", nên cơ quan có thẩm quyền quyết theo ý chí của mình trong một biên độ rất rộng. Chỉ thị nêu rõ có một lợi ích công đối trọng: Lợi ích của Thuỵ Sĩ trong việc giữ gìn thanh danh của mình.
Toà Hành chính Liên bang đã phán rằng nếu Thuỵ Sĩ cấp quy chế cư trú cho công dân Nga giàu có mà không xét gì thêm, thuần tuý vì lợi ích tài khoá, thì điều đó nhiều khả năng làm tổn hại uy tín quốc tế của Thuỵ Sĩ. Bản chỉ thị không ấn định mức thuế khoán nào; mức ấy do từng bang thoả thuận theo luật thuế, nằm ngoài văn bản này
Chi phí bắt buộc ngoài khoản đầu tư
Lệ phí hành chính do Hội đồng Liên bang ấn định dưới dạng mức trần mà các bang không được vượt, còn thu thấp hơn thì được.
Theo Điều 8 Nghị định GebV-AIG, mức trần tính bằng franc như sau:
| Việc | Mức trần (franc) |
|---|---|
| Cấp mới hoặc cấp lại giấy phép lưu trú ngắn hạn, giấy phép cư trú và giấy phép qua biên giới, cũng như cấp giấy phép định cư | 95 |
| Gia hạn các giấy phép ấy | 75 |
| Gia hạn thời hạn kiểm tra của thẻ định cư | 65 |
| Cấp thẻ bản sao | 40 |
Riêng công dân EU hoặc EFTA thì mức trần cấp thẻ là 65 franc, và 30 franc với người dưới 18 tuổi còn độc thân
Lựa chọn đầu tư
| Lựa chọn | Ngưỡng | Loại hình | Trạng thái |
|---|---|---|---|
| Cơ sở tính thuế theo chi tiêu, mức sàn liên bang. Đây là cơ sở tính thuế hằng năm, không phải khoản đầu tư | 435.000 CHF/năm | Khác | Đang mở |