Tư cách lưu trú dự kiến dành cho nhà đầu tư thiên thần của Nhật Bản mới là đề xuất, chưa vận hành: Các văn bản của Nội các, gần nhất là Kế hoạch Thực hiện Cải cách Quy chế năm 2024, chỉ nêu tiêu chí định tính, không ấn định ngưỡng đầu tư, và diện này dự kiến chỉ đặt trong các đặc khu chiến lược quốc gia. Theo Prosperous Intelligence, hộ chiếu Nhật Bản, cấp cho công dân chứ không cho người giữ tư cách lưu trú, tới được 204 điểm đến không cần xin thị thực lãnh sự trước.
Tổng quan chương trình
- Tên chính thức chương trình: Angel Investor Visa (proposed)
- Website: moj.go.jp
- Cơ quan quản lý: Immigration Services Agency of Japan
Ngưỡng vốn tối thiểu
Chưa có ngưỡng nào được ấn định, và bản thân văn bản quyết định nói rõ nó mới đang ở mức nêu tiêu chí. Kế hoạch Thực hiện Cải cách Quy chế, Nội các quyết nghị ngày 21/06/2024, mục số 8 về lập diện lưu trú cho nhà đầu tư nước ngoài có khoản đầu tư vào doanh nghiệp khởi nghiệp, đặt ba điều kiện định tính.
Thứ nhất là đầu tư một số tiền nhất định vào doanh nghiệp khởi nghiệp trong nước. Thứ hai là tiến hành hoạt động đóng góp cho việc hình thành và phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp trong đặc khu chiến lược quốc gia. Thứ ba là diện này chỉ đặt trong khuôn khổ đặc khu ấy chứ không áp toàn quốc.
Bản Thiết kế tổng thể Chủ nghĩa tư bản mới bản sửa đổi 2023, Nội các quyết nghị ngày 16/06/2023, nói thêm căn cứ xét sẽ dựa trên giá trị tài sản và thành tích đầu tư vào doanh nghiệp khởi nghiệp, tham chiếu kinh nghiệm của Anh và các nước khác. Không văn bản nào trong ba văn bản ấy nêu một con số
Kết quả pháp lý
Chưa có kết quả nào để mô tả, vì diện này chưa tồn tại — nhưng hai văn bản quyết định cho biết nó sẽ thuộc hạng nào, và chúng dùng hai từ khác nhau. Kế hoạch Hành động ngày 26/04/2023 nói về "tư cách lưu trú" cho nhà đầu tư thiên thần, tức một 在留資格 trong Luật Quản lý Xuất nhập cảnh.
Hai văn bản sau — Thiết kế tổng thể sửa đổi 16/06/2023 và Kế hoạch Cải cách Quy chế 21/06/2024 — lại nói về "thị thực" cho nhà đầu tư.
Trong hệ thống Nhật đó là hai thứ khác nhau: Thị thực do cơ quan đại diện ở nước ngoài cấp để nhập cảnh, còn tư cách lưu trú do Cục Quản lý Xuất nhập cảnh cấp và mới là thứ quyết định được làm gì và ở bao lâu.
Kế hoạch Cải cách Quy chế đặt tên mục là "lập tư cách lưu trú cho nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào doanh nghiệp khởi nghiệp", nên hạng đang được nhắm tới là tư cách lưu trú.
Diện đang tồn tại gần nhất cho người nước ngoài bỏ vốn là tư cách Kinh doanh - Quản lý, nhưng nó đòi người ấy điều hành hoặc quản lý doanh nghiệp, chứ không dành cho người chỉ góp vốn
Thời gian xử lý công bố
Ba văn bản quyết định trong mười bốn tháng, một hạn chót đã trôi qua, và hai năm sau vẫn chưa thấy diện ấy trong danh mục.
Mốc một: Ngày 26/04/2023, Hội nghị Xúc tiến Đầu tư trực tiếp vào Nhật Bản quyết nghị Kế hoạch Hành động thu hút nhân lực và vốn từ nước ngoài, mục 2 giao Bộ Tư pháp và Bộ Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp "tạo thuận lợi cho việc cấp tư cách lưu trú cho nhà đầu tư thiên thần ở nước ngoài".
Mốc hai: Ngày 16/06/2023, Nội các quyết nghị bản sửa đổi Thiết kế tổng thể, chuyển việc ấy thành "xem xét lập thị thực cho nhà đầu tư, bao gồm nhà đầu tư thiên thần".
Mốc ba: Ngày 21/06/2024, Kế hoạch Thực hiện Cải cách Quy chế ấn định "thực hiện các biện pháp cần thiết trong năm tài chính 2024".
Tại ngày 17/09/2026, trang chính sách khởi nghiệp của Cục Quản lý Xuất nhập cảnh và Lưu trú liệt kê bốn diện — dự án xúc tiến hoạt động khởi nghiệp của người nước ngoài tối đa hai năm, chế độ nhân lực kiến tạo tương lai J-Find tối đa hai năm, diện khởi nghiệp sau khi tốt nghiệp đại học trong nước, và tư cách Kinh doanh - Quản lý.
Không diện nào là diện nhà đầu tư thiên thần, và trang ấy không nhắc tới chữ "エンジェル"
Yêu cầu cư trú thực tế
Điều kiện cư trú của diện này chưa tồn tại, vì bản thân diện chưa tồn tại — và tài liệu của Văn phòng Nội các cho biết nó sẽ bị giới hạn theo địa bàn chứ không mở toàn quốc.
Kế hoạch Thực hiện Cải cách Quy chế do Nội các quyết ngày 21/06/2024, mục số 8, viết rằng để thu hút đầu tư nước ngoài vào doanh nghiệp khởi nghiệp, thị thực dành cho nhà đầu tư kể cả nhà đầu tư thiên thần sẽ được lập trong các đặc khu chiến lược quốc gia.
Điều kiện đi kèm là đầu tư một khoản nhất định vào doanh nghiệp khởi nghiệp tại Nhật và thực hiện hoạt động góp phần hình thành, phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp trong chính đặc khu ấy.
Nghĩa là người giữ sẽ bị buộc gắn với một vùng địa lý cụ thể, khác hẳn các diện đầu tư mở toàn lãnh thổ. Trong khi chờ, khung cư trú thật sự đang chạy cho người nước ngoài khởi nghiệp tại Nhật là tư cách lưu trú kinh doanh quản lý, và hai điều kiện của Thông tư Tiêu chuẩn Cho phép Nhập cảnh mới là thứ chặn thật.
Điều kiện một là về quy mô kinh doanh: Từ hai nhân viên toàn thời gian trở lên, hoặc vốn góp từ năm triệu yên trở lên. Điều kiện hai là về việc bảo đảm có trụ sở kinh doanh, kèm một loại trừ mà nhiều người vấp phải — không tính không gian làm việc chung.
Các chương trình hiện hành không bỏ hai điều kiện ấy mà chỉ hoãn:
Diện đặc khu và diện của Bộ Kinh tế Thương mại Công nghiệp cho hoãn sáu tháng, diện hoạt động chỉ định số 44 cho hoãn tối đa một năm, còn diện khởi nghiệp sau khi tốt nghiệp đại học trong nước cho hoãn tối đa hai năm — và nếu người ấy đã dùng một chương trình trước đó thì tổng thời gian hoãn vẫn tối đa hai năm.
Một mốc cần theo dõi: Chính kế hoạch 2024 đặt hạn thực hiện các biện pháp cần thiết trong năm tài khoá 2024, mà tại ngày đối chiếu chưa có văn bản nào lập ra diện này.
Người phụ thuộc được kèm
Người phụ thuộc đi bằng tư cách lưu trú riêng tên là lưu trú gia đình, và định nghĩa của nó gói trong một câu của bảng phụ lục số 1 mục 4.
Câu ấy là: Hoạt động thường nhật với tư cách vợ chồng hoặc con được cấp dưỡng bởi người đang lưu trú bằng một tư cách ở bảng một, bảng hai hoặc bảng ba, trừ các tư cách ngoại giao, công vụ, kỹ năng đặc định số một, thực tập kỹ năng và lưu trú ngắn hạn, hoặc bởi người đang lưu trú bằng tư cách du học.
Tư cách kinh doanh và quản lý, tức diện của bản ghi này, nằm ở bảng một mục 2, và nó không có trong danh sách bị loại trừ, nên người phụ thuộc của diện này đủ điều kiện.
Trang của Cơ quan Quản lý Xuất nhập cảnh và Lưu trú khẳng định lại bằng cách liệt kê thẳng tên tư cách kinh doanh và quản lý trong danh sách các tư cách mà vợ chồng và con được đi theo, với ví dụ điển hình là vợ chồng và con được người nước ngoài đang cư trú cấp dưỡng.
Thời hạn lưu trú gia đình do Bộ trưởng Tư pháp ấn định từng trường hợp trong phạm vi không quá năm năm. Chỉ có vợ chồng và con: Không có cha mẹ, không có ông bà, không có anh chị em.
Luật không nêu giới hạn tuổi cho con và không nêu ngưỡng tiền cho mỗi người phụ thuộc; điều kiện duy nhất trong luật là được đương đơn chính cấp dưỡng.
Một điều không được ghép: Diện chuyên môn cao độ có cơ chế riêng cho cha mẹ đi kèm, nhưng đó là một tư cách khác và không áp cho kinh doanh và quản lý.
Số nước miễn thị thực
Tư cách mà chương trình này cấp, dù là thị thực hay thẻ cư trú, không thay hộ chiếu của người giữ. Người giữ vẫn đi lại bằng hộ chiếu của nước mình, nên con số dưới đây là của hộ chiếu Nhật Bản và chỉ trở thành của người giữ khi họ được cấp hộ chiếu Nhật Bản.
Theo Passport Index của Prosperous Intelligence, dữ liệu ngày 30/09/2026, hộ chiếu Nhật Bản tới được 204 điểm đến mà không cần xin thị thực lãnh sự trước. Con số ấy gộp ba hình thức nhập cảnh và không tính thị thực điện tử phải xin trước:
| Hình thức nhập cảnh | Số điểm đến |
|---|---|
| Miễn thị thực | 165 |
| Thị thực cấp tại cửa khẩu | 29 |
| Giấy phép du lịch điện tử (eTA) | 10 |
| Cộng, là con số của Passport Index | 204 |
| Thị thực điện tử phải xin trước, không cộng | 28 |
Vì vậy đây là thước đo mức đi lại thuận tiện, không phải số nước miễn thị thực theo nghĩa hẹp.
Để đối chiếu, cùng nguồn và cùng cách đếm, hộ chiếu Việt Nam tới được 44 điểm đến. Hai danh sách điểm đến không lồng vào nhau, nên hiệu số chỉ là chỉ dấu chứ không phải danh sách những nơi được mở thêm.
Prosperous Intelligence ghi ngày cho dữ liệu và khuyến nghị xác minh với cơ quan chính thức của nước đến trước khi đi.
Nghĩa vụ thuế phát sinh
Bảng phụ lục số 1 của Luật Quản lý Xuất nhập cảnh và Công nhận Tị nạn là một danh sách đóng các tư cách lưu trú, và không tư cách nào trong đó dành cho nhà đầu tư thiên thần.
Hai mươi lăm tư cách gồm ngoại giao, công vụ, giáo sư, nghệ thuật, tôn giáo, báo chí, chuyên môn cao độ, kinh doanh và quản lý, nghiệp vụ luật và kế toán, y tế, nghiên cứu, giáo dục, kỹ thuật cùng tri thức nhân văn và nghiệp vụ quốc tế.
Danh sách tiếp tục với thuyên chuyển nội bộ doanh nghiệp, điều dưỡng, biểu diễn, kỹ năng, kỹ năng đặc định, thực tập kỹ năng, hoạt động văn hoá, lưu trú ngắn hạn, du học, tu nghiệp, lưu trú gia đình và hoạt động đặc định.
Bảng phụ lục số 2 thêm bốn tư cách theo thân phận là vĩnh trú, vợ chồng người Nhật, vợ chồng người vĩnh trú và định trú.
Thứ gần nhất với đầu tư là tư cách kinh doanh và quản lý, vốn dành cho người điều hành doanh nghiệp chứ không cho người bỏ vốn thụ động.
Luật không nhắc tới nhà đầu tư hay thiên thần ở bất kỳ điều nào, và riêng bảng phụ lục số 1 cũng không nhắc tới đầu tư; trang Các biện pháp liên quan khởi nghiệp của Cơ quan Quản lý Xuất nhập cảnh và Lưu trú liệt kê bốn biện pháp đang tồn tại và cũng không nói gì về thị thực nhà đầu tư thiên thần.
Tầng hai là phép ghép, lấy từ Luật Thuế thu nhập. Điều 2 khoản 1 mục 3 xác định người cư trú bằng nơi cư trú chính trong nước hoặc chỗ ở liên tục từ một năm trở lên. Mục 4 định nghĩa người cư trú không vĩnh viễn là người cư trú không mang quốc tịch Nhật Bản có tổng thời gian cư trú trong mười năm gần nhất từ năm năm trở xuống.
Còn Điều 7 chia ba mức: Người cư trú thông thường chịu thuế trên toàn bộ thu nhập, người cư trú không vĩnh viễn chịu thuế trên thu nhập không phải nguồn nước ngoài cộng phần nguồn nước ngoài được trả tại Nhật hoặc chuyển tiền về, và người không cư trú chỉ chịu thuế trên thu nhập nguồn trong nước.
Chi phí bắt buộc ngoài khoản đầu tư
Diện này chưa có lệ phí, vì chưa có tư cách lưu trú để thu lệ phí, và điều đó đọc được trong văn bản chứ không phải suy ra:
Tài liệu quyết nghị của Nội các ngày 21/06/2024 lập ra chủ trương này không nhắc tới lệ phí, và số tiền duy nhất nó nêu là mức vốn năm triệu yên của tư cách Kinh doanh và Quản lý đang có sẵn.
Điều đáng viết vào ô này là khung mà một tư cách mới sẽ rơi vào, và khung ấy sắp thay đổi rất mạnh.
Điều 67 Luật Quản lý Xuất nhập cảnh và Công nhận Tị nạn thu lệ phí ở bốn thời điểm — cho phép thay đổi tư cách lưu trú, cho phép gia hạn thời gian lưu trú, cho phép vĩnh trú, và cho phép tái nhập cảnh kể cả việc gia hạn hiệu lực của phép ấy — với mức do chính lệnh ấn định trong phạm vi không quá một vạn yên.
Đó là câu chữ mà cơ sở dữ liệu pháp luật e-Gov còn phục vụ tại ngày 21/09/2026, và trần ấy sắp bị thay.
Từ ngày 01/10/2026, theo chính lệnh sửa đổi mà Cục Quản lý Xuất nhập cảnh và Lưu trú công bố, lệ phí cho phép thay đổi tư cách và cho phép gia hạn không còn là một mức duy nhất mà chia theo độ dài thời gian lưu trú được cấp, tính bằng yên, nộp tại quầy và nộp trực tuyến: Từ ba tháng trở xuống là 10.000 và 10.000.
Trên ba tháng tới sáu tháng là 18.000 và 15.000; trên sáu tháng tới dưới một năm là 25.000 và 21.000. Đúng một năm là 33.000 và 27.000; trên một năm tới dưới ba năm là 48.000 và 42.000. Từ ba năm tới dưới năm năm là 64.000 và 56.000; từ năm năm trở lên là 75.000 và 65.000.
Mức trước ngày ấy chỉ là 6.000 tại quầy và 5.500 trực tuyến cho cả hai loại phép. Vĩnh trú là chỗ đổi nặng nhất: Từ 10.000 yên lên hai trăm nghìn yên, tức gấp hai mươi lần. Ba điểm vận hành đi kèm. Thứ nhất, hồ sơ được tiếp nhận chậm nhất ngày 30/09/2026 vẫn nộp theo mức cũ, kể cả khi phép được cấp sau ngày 01/10.
Thứ hai, với hồ sơ trực tuyến thì lệ phí chỉ nộp qua cửa hàng tiện lợi hoặc ngân hàng, không dùng tem thu nhập được, và còn một khoản phí thanh toán riêng ngoài các mức trên. Thứ ba, Điều 67 khoản 3 sau sửa đổi cho phép giảm hoặc miễn lệ phí cho người gặp khó khăn kinh tế hoặc có lý do đặc biệt khác, theo danh sách của lệnh sửa đổi.