31/10/2026 · Việt Nam EN

Citizenship · Capital · Global Mobility

The Legation Times

Residence authorisation for real estate investment (Normative Resolution No. 36 of 9 October 2018)

Thị thực nhà đầu tư Brazil

Đang mở đối chiếu 16/10/2026 · gov.br

Brazil cấp giấy phép cư trú cho nhà đầu tư bất động sản đô thị theo Resolução Normativa số 36 năm 2018, với mức từ 1.000.000 real; ở vùng Bắc và Đông Bắc, mức tối thiểu có thể thấp hơn tới 30 phần trăm, tức không dưới 700.000 real. Bộ Tư pháp vẫn liệt nghị quyết này mà không ghi chú bãi bỏ, dù quyền ấn định điều kiện đầu tư đã chuyển sang văn bản liên bộ, và các danh mục văn bản liên bộ năm 2025 và 2026 của Bộ chưa có văn bản nào về đầu tư. Giấy phép ban đầu có thời hạn bốn năm rồi có thể chuyển sang không thời hạn nếu khoản đầu tư được duy trì, và người giữ phải có mặt tại Brazil tối thiểu 14 ngày trong mỗi kỳ hai năm; theo Prosperous Intelligence, hộ chiếu Brazil, cấp cho công dân chứ không cho người giữ giấy phép này, tới được 180 điểm đến không cần xin thị thực lãnh sự trước.

Tổng quan chương trình

  • Tên chính thức chương trình: Residence authorisation for real estate investment (Normative Resolution No. 36 of 9 October 2018)
  • Website: gov.br
  • Cơ quan quản lý: Ministério da Justiça e Segurança Pública

Ngưỡng vốn tối thiểu

Ngưỡng của diện này là mua bất động sản nằm trong khu vực đô thị với tổng giá trị từ 1.000.000 real trở lên, và con số ấy nằm ở Resolução Normativa số 36 ngày 09/10/2018 của Hội đồng Di trú Quốc gia chứ không nằm trong Nghị định 9.199. Nghị định chỉ nói con số ấy do văn bản nào ấn định.

Điều 151 khoản 4 quy định rằng đơn xin phép cư trú để thực hiện đầu tư phải tuân theo các điều kiện ấn định trong một văn bản chung của Bộ trưởng Tư pháp và An ninh Công cộng cùng Bộ trưởng Ngoại giao, sau khi lấy ý kiến các bộ liên quan khác.

Bản thân khoản này vừa được sửa, và đây là điểm phải đọc kỹ: Bản cũ giao việc ấn định cho một nghị quyết của Hội đồng Di trú Quốc gia, còn Nghị định số 12.657 năm 2025 chuyển thẩm quyền sang văn bản liên bộ.

Hai phiên bản của khoản 4 hiện cùng nằm trên một trang hợp nhất, nên một mức tiền tra được từ nguồn cũ có thể đã đổi nơi ban hành chứ không chỉ đổi số.

Nghị quyết số 36 gắn diện bất động sản vào đoạn đầu Điều 151 và tự đặt các điều kiện cụ thể: Bất động sản có thể đã xây xong hoặc đang xây; mức tối thiểu có thể thấp hơn tới 30 phần trăm khi mua ở vùng Bắc và Đông Bắc, nên mức sàn là 700.000 real, một con số nghị quyết không in ra; được cộng giá trị của nhiều bất động sản để đủ mức; và chỉ phần vượt mức tối thiểu mới được trả bằng vốn vay.

Ba hình thức đầu tư vào pháp nhân ở khoản 1 Điều 151 thuộc một lộ trình song song, đầu tư vào công ty theo Resolução Normativa số 13 ngày 12/12/2017 với ngưỡng chung 500.000 real, mức không dưới 150.000 real cho người đầu tư vào hoạt động đổi mới sáng tạo hoặc nghiên cứu khoa học, công nghệ, và thời hạn cư trú không xác định ngay từ đầu; không điều nào trong số đó áp cho diện bất động sản của trang này.

Hai mức của bảng lựa chọn, 1.000.000 real và 700.000 real, đọc từ bản hợp nhất của Nghị quyết số 36 đã sửa bởi Nghị quyết 46 năm 2021 và Nghị quyết 49 năm 2024, đăng trên trang của Bộ Tư pháp và An ninh Công cộng.

Nghị định số 12.657 ngày 07/10/2025 chuyển thẩm quyền ấn định yêu cầu sang văn bản chung của hai bộ nhưng không bãi bỏ Nghị quyết số 36, và ngày 15/10/2026 Bộ Tư pháp vẫn đăng nghị quyết này trong danh mục nghị quyết chuẩn tắc của cổng di trú lao động. Nghị định số 12.657 cũng bãi bỏ Nghị định số 9.873 năm 2019, văn bản mà Nghị quyết số 36 viện dẫn làm căn cứ thẩm quyền, và không có điều khoản chuyển tiếp nào nhắc tới Hội đồng Di trú Quốc gia hay các nghị quyết của Hội đồng. Các danh mục văn bản liên bộ năm 2025 và 2026 trên cùng cổng thông tin chưa có văn bản nào về đầu tư. Vì vậy hai con số là mức Bộ Tư pháp đang công bố, còn không văn bản nào quy định rằng chúng giữ hiệu lực tới khi một văn bản chung thay thế.

Kết quả pháp lý

Nghị định nói hai lần, ở hai chỗ cách nhau hơn trăm điều, rằng việc sở hữu tài sản tại Brazil tự nó không tạo ra quyền gì. Điều 11: Việc chiếm hữu hoặc sở hữu tài sản trong nước không trao quyền được cấp thị thực.

Điều 123 khoản 2 lặp lại nguyên ý cho giấy phép cư trú: Việc chiếm hữu hoặc sở hữu tài sản không trao quyền được cấp phép cư trú.

Cả hai lần đều kèm đúng một bảo lưu — trừ những gì quy định về diện dành cho việc thực hiện đầu tư.

Nghĩa là việc mua bất động sản chỉ mở lộ trình khi nó được thực hiện theo đúng khuôn của diện đầu tư, và với diện này khuôn ấy do Resolução Normativa số 36 ngày 09/10/2018 của Hội đồng Di trú Quốc gia đặt ra: Bộ Tư pháp và An ninh Công cộng có thể cấp phép cư trú theo đoạn đầu Điều 151 của Nghị định cho cá nhân dùng nguồn lực của chính mình có gốc từ bên ngoài để đầu tư bất động sản tại Brazil.

Đoạn đầu Điều 151 viết cho khoản đầu tư vào một pháp nhân trong nước, trong một dự án có tiềm năng tạo việc làm hoặc tạo thu nhập tại Brazil. Ba dạng đầu tư vào pháp nhân ở khoản 1 và quy định cho người quản trị ở khoản 2 và khoản 3 thuộc lộ trình song song đầu tư vào công ty theo Resolução Normativa số 13 ngày 12/12/2017, không thuộc diện bất động sản của trang này.

Độ bền của kết quả do nghị quyết và hai khoản cuối của Điều 151 cùng quyết định. Nghị quyết số 36 cấp giấy phép ban đầu bốn năm, và hết bốn năm ấy giấy phép có thể chuyển sang thời hạn không xác định nếu người giữ nộp lại giấy tờ chứng minh vẫn duy trì điều kiện đầu tư; khoản 5 Điều 151 là căn cứ cho thời hạn không xác định ấy.

Khoản 6: Giấy phép ấy có thể bị tuyên mất theo Điều 135 khoản 1 nếu người nhập cư không thực hiện kế hoạch đầu tư vốn là căn cứ cấp phép.

Thời hạn có thể thành không xác định, nhưng điều kiện đầu tư vẫn chạy suốt: Điều 6-B của nghị quyết cho tuyên mất giấy phép theo Điều 135 khoản 1 khi căn cứ cấp phép chấm dứt, dù trong thời hạn xác định hay không xác định.

Thời gian xử lý công bố

Nghị định đặt thời hạn cho gần như mọi bước, nhưng đọc kỹ thì thấy các thời hạn ấy đều đặt lên vai người nộp, không đặt lên cơ quan — và đó là điểm quan trọng nhất của ô này. Không có điều khoản nào buộc cơ quan phải quyết trong bao lâu.

Mốc duy nhất gắn với một quyết định là mốc sau khi bị từ chối: Điều 134 cho quyền khiếu nại quyết định từ chối cấp phép cư trú trong mười ngày kể từ ngày người nhập cư biết được quyết định, bảo đảm nguyên tắc tranh tụng và quyền bào chữa đầy đủ, và cho áp dụng bổ sung Luật số 9.784 ngày 29/01/1999.

Tức luật thủ tục hành chính chung, là nơi phải tìm nếu muốn một thời hạn ra quyết định.

Phía người nộp thì các mốc đều có chế tài tiền. Điều 307 khoản 3 phạt tiền nếu không đăng ký trong chín mươi ngày kể từ ngày nhập cảnh khi việc định danh dân sự là bắt buộc.

Điều 307 khoản 4 phạt tiền theo ngày chậm nếu người nhập cư không đăng ký để được cấp phép cư trú trong ba mươi ngày khi đã được cơ quan có thẩm quyền hướng dẫn làm việc đó.

Và Điều 130 khoản 2 nói thẳng rằng nộp đơn xin phép cư trú mới sau khi giấy phép cũ đã hết hạn sẽ kéo theo chế tài của Điều 307 khoản 2, tức phạt tiền theo mỗi ngày quá hạn cộng trục xuất nếu không rời nước hoặc không hợp thức hoá tình trạng trong thời hạn được ấn định.

Yêu cầu cư trú thực tế

Diện này có một số ngày tối thiểu phải có mặt, và nó đến từ nghị quyết chứ không từ nghị định: Điều 6 Resolução Normativa số 36 buộc nhà đầu tư bất động sản ở trong lãnh thổ Brazil tối thiểu 14 ngày, liên tục hoặc ngắt quãng, trong mỗi kỳ hai năm tính từ ngày đăng ký với Cảnh sát Liên bang. Ngoài ra còn một trần vắng mặt và một nghĩa vụ báo cáo chạy suốt thời gian giấy phép còn hiệu lực.

Điều 135 nêu ba trường hợp bị tuyên mất giấy phép cư trú: Một, chấm dứt căn cứ vốn là nền của giấy phép; hai, có được một giấy phép cư trú theo một căn cứ khác; và ba, vắng mặt khỏi lãnh thổ quá hai năm mà không trình bày lý do chính đáng.

Mệnh đề cuối là chỗ phải đọc kỹ: Hai năm không phải một trần tuyệt đối, mà là trần của việc vắng mặt không giải trình — có giải trình thì điều khoản không áp. Với diện bất động sản, đoạn duy nhất của Điều 6 nghị quyết còn quy định rằng ai đáp ứng đủ 14 ngày ấy thì không bị áp trường hợp mất giấy phép vì vắng mặt ở Điều 135 khoản 3.

Khoản 1 đặt thêm một nghĩa vụ chủ động: Người nhập cư phải thông báo cho Cảnh sát Liên bang mỗi khi không còn giữ được các điều kiện đã làm nền cho việc cấp phép, trong suốt thời gian giấy phép còn hiệu lực.

Khoản 2 mở một lối thoát: Mất căn cứ ở trường hợp một không ngăn người ấy xin một giấy phép theo căn cứ khác.

Với diện này, trường hợp một mới là cửa nguy hiểm nhất chứ không phải trần hai năm: Điều 6-B của nghị quyết quy định rằng việc chấm dứt căn cứ cấp phép, phát hiện trong thời hạn xác định hay không xác định, là căn cứ tuyên mất giấy phép theo Điều 135 khoản 1, và căn cứ của diện này là khoản đầu tư bất động sản.

Lần rà soát định kỳ nằm ở mốc bốn năm: Điều 5 của nghị quyết chỉ cho chuyển giấy phép ban đầu sang thời hạn không xác định khi người giữ nộp giấy tờ chứng minh vẫn duy trì điều kiện đầu tư, kèm thẻ Đăng ký Di trú Quốc gia và lý lịch tư pháp. Điều 6-A cho người không đủ 14 ngày hoặc lỡ hạn chuyển đổi được xin một giấy phép bốn năm mới, miễn là vẫn giữ khoản đầu tư.

Cuối cùng, Điều 137 buộc mọi việc tuyên mất hay huỷ đều phải đi qua một thủ tục hành chính tôn trọng nguyên tắc tranh tụng và quyền bào chữa đầy đủ.

Người phụ thuộc được kèm

Nghị quyết lập ra diện này không nói một chữ nào về người phụ thuộc:

Resolução Normativa số 36 ngày 09/10/2018 không nhắc tới người phụ thuộc, gia đình, vợ chồng, con, bạn đời, đoàn tụ, người thân hàng trên, người thân hàng dưới hay anh chị em.

Người nhà đi đường đoàn tụ gia đình chung, và đây là phép ghép sang hai văn bản khác:

Điều 37 Luật Di trú 13.445 năm 2017 cho thị thực hoặc giấy phép cư trú vì đoàn tụ đối với vợ chồng hoặc bạn đời không phân biệt gì cả, con của người nhập cư đang có giấy phép cư trú, người thân hàng trên và hàng dưới tới bậc hai cùng anh chị em, và người đang nuôi dưỡng hoặc giám hộ một công dân Brazil.

Điều 153 Nghị định 9.199 cùng năm chi tiết hoá thành tám nhóm, trong đó hàng trên tới bậc hai là cha mẹ và ông bà, hàng dưới tới bậc hai là con và cháu.

Điều kiện phụ thuộc kinh tế chỉ đặt cho một nhóm duy nhất: Khoản 3 buộc anh chị em trên 18 tuổi chứng minh phụ thuộc kinh tế vào người bảo lãnh, còn con, vợ chồng, cha mẹ và ông bà thì không.

Nghị định không nêu giới hạn tuổi nào cho con.

Thời hạn của người được bảo lãnh trùng đúng ngày hết hạn của người bảo lãnh, và nếu người bảo lãnh có cư trú vô thời hạn thì người phụ thuộc cũng vô thời hạn.

Hồ sơ nộp cùng lúc được nhưng chỉ cấp sau khi người bảo lãnh đã được cấp; người phụ thuộc được làm mọi việc kể cả việc có thù lao, ngang người Brazil; và người đang giữ cư trú theo diện đoàn tụ thì không được đứng ra bảo lãnh tiếp.

Không có ngưỡng tiền tăng thêm cho mỗi người phụ thuộc trong cả ba văn bản.

Số nước miễn thị thực

Tư cách mà chương trình này cấp, dù là thị thực hay thẻ cư trú, không thay hộ chiếu của người giữ. Người giữ vẫn đi lại bằng hộ chiếu của nước mình, nên con số dưới đây là của hộ chiếu Brazil và chỉ trở thành của người giữ khi họ được cấp hộ chiếu Brazil.

Theo Passport Index của Prosperous Intelligence, dữ liệu ngày 30/09/2026, hộ chiếu Brazil tới được 180 điểm đến mà không cần xin thị thực lãnh sự trước. Con số ấy gộp ba hình thức nhập cảnh và không tính thị thực điện tử phải xin trước:

Hình thức nhập cảnhSố điểm đến
Miễn thị thực150
Thị thực cấp tại cửa khẩu23
Giấy phép du lịch điện tử (eTA)7
Cộng, là con số của Passport Index180
Thị thực điện tử phải xin trước, không cộng37

Vì vậy đây là thước đo mức đi lại thuận tiện, không phải số nước miễn thị thực theo nghĩa hẹp.

Để đối chiếu, cùng nguồn và cùng cách đếm, hộ chiếu Việt Nam tới được 44 điểm đến. Hai danh sách điểm đến không lồng vào nhau, nên hiệu số chỉ là chỉ dấu chứ không phải danh sách những nơi được mở thêm.

Prosperous Intelligence ghi ngày cho dữ liệu và khuyến nghị xác minh với cơ quan chính thức của nước đến trước khi đi.

Nghĩa vụ thuế phát sinh

Nghị quyết lập ra diện này không nói một chữ nào về thuế. Bản hợp nhất của Resolução Normativa số 36 ngày 09/10/2018, đã sửa bởi Nghị quyết 46 năm 2021 và Nghị quyết 49 năm 2024, không dùng các chữ tribut, imposto, fiscal, renda hay Receita Federal.

Giấy tờ mang tính tài chính duy nhất là bản xác nhận của một định chế được Ngân hàng Trung ương Brazil cho phép, chứng thực việc chuyển vốn quốc tế; đó là chứng minh dòng vốn chứ không phải hồ sơ thuế.

Những gì nghị quyết có nói: Ngưỡng là mua bất động sản nằm trong khu vực đô thị với giá trị từ 1.000.000 real trở lên, giảm tới 30 phần trăm nếu mua ở vùng Bắc và Đông Bắc.

Cư trú ban đầu bốn năm rồi có thể chuyển sang thời hạn không xác định; và nghĩa vụ hiện diện là ở trong lãnh thổ quốc gia tối thiểu 14 ngày, liên tục hoặc ngắt quãng, trong mỗi kỳ hai năm.

Quy chế thi hành Luật Di trú còn nói thẳng rằng việc chiếm hữu hay sở hữu một tài sản trong nước tự nó không tạo quyền được cấp thị thực.

Một hố phải nói rõ, vì nó làm phép ghép sang luật thuế không khép kín.

Luật Di trú 13.445 năm 2017 đã bỏ hẳn khái niệm visto permanente, và toàn văn luật không còn dùng chữ ấy. Nhưng quy chế thuế thu nhập năm 2018 vẫn khoá cơ chế đánh thuế cư dân từ ngày đến vào chính chữ ấy.

Và cẩm nang hỏi đáp thuế thu nhập cá nhân năm 2026 của cơ quan thuế không dùng cụm autorização de residência ở chỗ nào.

Vì vậy ô này không viết rằng nhà đầu tư diện này thành cư dân thuế từ ngày đến.

Câu hỏi về mốc cư trú thuế đã có lời giải đáp chính thức cho đúng diện này. Giải đáp số 180 ngày 19/10/2021 của Ban Điều phối chung về Thuế (Cosit) thuộc Cơ quan Thuế Liên bang, đăng công báo ngày 10/11/2021, xác định Nghị quyết số 36 không phải văn bản điều chỉnh vấn đề thuế, và người nhập cảnh Brazil bằng thị thực tạm thời trở thành cư dân thuế vào ngày đủ 184 ngày có mặt, liên tục hoặc không, trong khoảng tối đa mười hai tháng, trừ khi trước đó đã được cấp thị thực thường trú hoặc có quan hệ lao động.

Nhà đầu tư diện này đi từ nước ngoài vào bằng thị thực tạm thời, nên mốc 184 ngày là mốc áp dụng. Việc giấy phép đã chuyển sang thời hạn không xác định có được coi như thị thực thường trú hay không thì chưa văn bản nào trả lời.

Từ ngày thành cư dân thuế, người ấy chịu các quy định thuế như mọi cư dân khác theo Chỉ thị IN SRF số 208 năm 2002. Thu nhập từ nguồn nước ngoài phải nộp thuế hằng tháng theo cơ chế carnê-leão và kê khai trong tờ khai quyết toán năm, và thuế đã nộp ở nước ngoài chỉ được trừ khi Brazil có hiệp định với nước ấy hoặc hai bên có đối xử có đi có lại. Danh sách hiệp định tránh đánh thuế hai lần của Cơ quan Thuế Liên bang, cập nhật 28/08/2026, không có Việt Nam.

Chi phí bắt buộc ngoài khoản đầu tư

Hai khoản phí liên bang, mỗi khoản kèm một mã thu riêng, và cơ quan in cả hai ở hai chỗ khác nhau trên cùng trang nên đối chiếu được với nhau: Phí xử lý và thẩm định đơn xin phép cư trú 168,13 real, mã 140066; phí cấp thẻ Đăng ký Di trú Quốc gia 204,77 real, mã 140120.

Nộp bằng phiếu ngân hàng GRU. Khi gia hạn thời hạn cư trú thì chỉ còn một khoản: Phí cấp thẻ mới 204,77 real — phí thẩm định đơn không thu lại. Theo khoản 2 Điều 131 Nghị định 9.199, phí thẩm định cũng không thu với người nhập cư mang thị thực tạm thời khi giấy phép cư trú có cùng mục đích với thị thực đã được cấp. Điều cần biết trước cả hai con số là hồ sơ đi qua những cơ quan nào. Đơn xin phép cư trú của diện này gửi tới Bộ Tư pháp và An ninh Công cộng, nhưng người được cấp vẫn phải đăng ký với Cảnh sát Liên bang và nhận thẻ Đăng ký Di trú Quốc gia, trong 90 ngày kể từ ngày nhập cảnh nếu vào bằng thị thực tạm thời, hoặc trong 30 ngày kể từ ngày giấy phép được đăng công báo nếu được cấp khi đang ở Brazil. Kỳ hai năm với tối thiểu 14 ngày có mặt của Nghị quyết số 36 cũng tính từ chính ngày đăng ký ấy.

Trang nêu sáu căn cứ xin phép cư trú phải nộp thẳng lên Bộ Tư pháp và An ninh Công cộng qua hệ thống MigranteWeb bản 2.0, và căn cứ thứ ba trong sáu căn cứ ấy là thực hiện đầu tư; căn cứ thứ tư là thực hiện hoạt động có tầm quan trọng về kinh tế, xã hội, khoa học, công nghệ hoặc văn hoá.

Với các diện còn lại như du học, điều trị y tế hay đoàn tụ gia đình, trang hướng dẫn người xin tới Cảnh sát Liên bang. Danh sách sáu căn cứ ấy trùng với khoản 1 Điều 127 Nghị định 9.199, khoản đã bị Nghị định số 12.657 năm 2025 bãi bỏ; Điều 127 hiện hành quy định các đơn xin phép cư trú đều gửi tới Bộ Tư pháp và An ninh Công cộng. Sự phân chia trên trang vì vậy là hướng dẫn tiếp nhận hồ sơ của Bộ, không còn là quy định của nghị định. Hai con số phí giống nhau ở cả hai đường, nhưng nơi tiếp nhận thì khác.

Từ Việt Nam, trình tự gồm ba bước: Xin giấy phép cư trú trước tại Bộ Tư pháp và An ninh Công cộng, rồi xin thị thực tạm thời IX dành cho nhà đầu tư tại cơ quan lãnh sự Brazil, rồi nhập cảnh. Theo khoản 4 Điều 42 Nghị định 9.199, việc được cấp giấy phép trước không tự động kéo theo việc cấp thị thực. Công dân Việt Nam phải có thị thực để vào Brazil, kể cả để thăm; thị thực Brazil không bao giờ được cấp trên lãnh thổ Brazil; và cơ quan đại diện duy nhất của Brazil tại Việt Nam là Đại sứ quán ở Hà Nội.

Nghị quyết chuẩn tắc số 1 ngày 01/12/2017 về thủ tục buộc giấy tờ lập ở nước ngoài phải được chứng nhận Apostille theo Công ước La Hay và dịch bởi phiên dịch viên công chứng tại Brazil. Công ước có hiệu lực với Việt Nam từ 11/09/2026 và Brazil không phản đối việc Việt Nam gia nhập, nhưng trang thị thực lao động của Đại sứ quán tại Hà Nội, đăng ngày 26/09/2025, vẫn ghi giấy tờ phải được Bộ Ngoại giao Việt Nam hợp pháp hoá trước.

Lựa chọn đầu tư

Lựa chọn Ngưỡng Loại hình Trạng thái
Bất động sản tại vùng Bắc và Đông Bắc 700.000 BRL Bất động sản Đang mở
Bất động sản tại các vùng còn lại 1.000.000 BRL Bất động sản Đang mở

Bản tin hàng tuần

Bản tin về đầu tư quốc tịch, dòng vốn và dịch chuyển toàn cầu sẽ được gửi hàng tuần. Quý độc giả vui lòng để lại địa chỉ thư điện tử để nhận bản tin mới nhất.