Bahrain cấp giấy phép cư trú vàng mười năm, gia hạn được, cho năm nhóm, thấp nhất là bất động sản trị giá 200.000 dinar Bahrain hoặc lương cơ bản bình quân từ 2.000 dinar mỗi tháng với người đã cư trú tại đây từ năm năm. Diện này vận hành theo Quyết định số 20 năm 2022 của Bộ trưởng Nội vụ, đòi người giữ cư trú trong nước chín mươi ngày mỗi năm, và theo Prosperous Intelligence, hộ chiếu Bahrain, cấp cho công dân chứ không cho người giữ giấy phép này, tới được 94 điểm đến không cần xin thị thực lãnh sự trước.
Tổng quan chương trình
- Tên chính thức chương trình: Bahrain Golden Residency Visa
- Website: evisa.gov.bh
- Cơ quan quản lý: Nationality, Passports & Residence Affairs
Ngưỡng vốn tối thiểu
Quyết định mở năm lộ trình chứ không phải một, và bốn trong năm lộ trình ấy có con số riêng. Điều 1 của Quyết định Bộ trưởng Nội vụ số 20 năm 2022 cho phép Cục Quốc tịch, Hộ chiếu và Cư trú cấp thị thực nhập cảnh cùng giấy phép cư trú vàng cho năm nhóm.
Nhóm thứ nhất là người nước ngoài sở hữu bất động sản đứng tên mình tại Bahrain, với điều kiện giá không dưới hai trăm nghìn dinar Bahrain tại thời điểm mua, theo đúng những gì ghi trong giấy tờ sở hữu.
Nhóm thứ hai là người nước ngoài đã nghỉ hưu từng làm ở khu vực nhà nước hoặc tư nhân tại Bahrain hoặc ở ngoài Bahrain, với điều kiện lương hưu không dưới bốn nghìn dinar mỗi tháng hoặc tương đương.
Nhóm thứ ba là người có tài năng chuyên biệt, và nhóm này cố ý không mang con số: Tiêu chí do một quyết định riêng của Thứ trưởng phụ trách Quốc tịch, Hộ chiếu và Cư trú ấn định.
Nhóm thứ tư là người lao động nước ngoài đang ở Bahrain, với điều kiện thời gian cư trú không dưới năm năm và lương cơ bản bình quân không dưới hai nghìn dinar trong năm năm cư trú gần nhất.
Nhóm thứ năm là người đã nghỉ hưu từng làm ở khu vực nhà nước hoặc tư nhân tại Bahrain không dưới mười lăm năm, với lương hưu bình quân không dưới hai nghìn dinar trong năm năm cư trú gần nhất.
Hai nhóm hưu trí khác nhau ở chỗ dễ đọc lướt qua: Nhóm hai nhận lương hưu gấp đôi nhưng không cần từng làm việc tại Bahrain, nhóm năm nhận một nửa nhưng phải có mười lăm năm làm việc trong nước.
Kết quả pháp lý
Kết quả là một giấy phép cư trú mười năm, và Điều 1 nói rõ nó gia hạn được: Giấy phép có hiệu lực mười năm và được gia hạn cho những kỳ hạn tương tự. Nhưng thứ quyết định giá trị thật của nó nằm ở hai điều khoản mà phần quảng bá hiếm khi nhắc.
Điều 5 đặt một giới hạn dứt khoát: Người được cấp giấy phép theo quyết định này không được nhận việc ở khu vực nhà nước hay tư nhân trừ khi đã có giấy phép cần thiết từ các cơ quan liên quan — tức tấm thẻ cho quyền ở lại chứ không tự nó cho quyền làm việc.
Đổi lại, Điều 6 cho một quyền mà nhiều diện cư trú dài hạn không cho: Người được cấp giấy phép được rời Bahrain và quay lại trong suốt thời hạn hiệu lực, không cần thị thực tái nhập cảnh riêng.
Điều 3 nói thêm một điều mà người nộp cần biết trước khi tính toán: Hồ sơ nộp cho Cục Thị thực và Cư trú theo mẫu quy định, và đơn chịu sự đánh giá của cơ quan quản lý theo từng trường hợp riêng — đủ điều kiện trên giấy không đồng nghĩa với được cấp.
Và Điều 10 giữ lại cho Bộ trưởng Nội vụ quyền miễn một số trường hợp khỏi chính các điều kiện ấy, cũng xét theo từng ca.
Thời gian xử lý công bố
Bốn mốc thời gian, và ba trong số đó là mốc người được cấp phải tự canh chứ không phải mốc xử lý hồ sơ. Mốc thứ nhất là thời hạn: Mười năm, gia hạn được cho những kỳ hạn tương tự, theo đoạn cuối Điều 1.
Mốc thứ hai là nghĩa vụ có mặt, đặt ở Điều 8 dưới dạng một căn cứ huỷ giấy phép: Người được cấp phải chứng minh đã cư trú trong nước đủ chín mươi ngày trong một năm, nếu không giấy phép bị huỷ.
Mốc thứ ba là thời gian rời đi: Theo Điều 9 điểm a, khi giấy phép bị huỷ hoặc hết hạn mà không gia hạn, người nước ngoài cùng vợ chồng, con và cha mẹ được mười bốn ngày để rời Bahrain, và Cục Thị thực và Cư trú có thể kéo dài thời hạn ấy để người nộp thu xếp xong công việc.
Mốc thứ tư chỉ phát sinh khi người chính qua đời, và cách nó được viết đáng đọc kỹ: Theo Điều 9 điểm b, mọi người phụ thuộc được một thời gian ân hạn để điều chỉnh tình trạng pháp lý; thời gian ấy kéo dài tới khi giấy phép hết hạn ở năm thứ mười hoặc trong một năm, tuỳ mốc nào dài hơn.
Quyết định không đặt một mốc nào cho thời gian xét duyệt; Điều 3 chỉ nói đơn chịu sự đánh giá của cơ quan quản lý theo từng trường hợp.
Yêu cầu cư trú thực tế
Nghĩa vụ cư trú của diện này là chín mươi ngày mỗi năm, và nó không được viết như một điều kiện mà như một căn cứ huỷ giấy phép — Điều 8 khoản 1: Giấy phép bị huỷ nếu không chứng minh được đã cư trú trong nước chín mươi ngày trong một năm. Nghĩa vụ chứng minh nằm ở phía người được cấp.
Ba căn cứ huỷ còn lại của cùng điều ấy đáng đọc vì hai trong số đó không liên quan tới thời gian:
Nếu việc tiếp tục cư trú gây hại cho an ninh, trật tự công cộng hoặc lợi ích quốc gia; nếu chứng minh được giấy phép có được nhờ thông tin sai hoặc giấy tờ không đúng; và nếu vi phạm bất kỳ quy định nào của Luật Người nước ngoài (Nhập cư và Cư trú) năm 1965.
Điều 8 khép lại bằng một hệ quả dây chuyền: Giấy phép của người chính bị huỷ thì giấy phép của người phụ thuộc bị huỷ theo. Ở chiều ngược lại, Điều 6 cho quyền rời Bahrain và quay lại trong suốt thời hạn hiệu lực.
Điều 2 đặt ba điều kiện duy trì chứ không chỉ điều kiện đầu vào: Hạnh kiểm tốt và chưa từng bị kết án trọng tội hay tội xâm phạm danh dự, tín nghĩa — kể cả khi đã được phục hồi danh dự; có bảo hiểm Y tế tại Bahrain trong suốt thời hạn hiệu lực của giấy phép; và có nguồn sống hợp pháp đủ nuôi bản thân cùng người mình nuôi.
Người phụ thuộc được kèm
Diện người phụ thuộc gồm ba nhóm, và nhóm thứ ba là thứ phần lớn các diện cùng loại không cho.
Điều 4 cho phép cấp thị thực nhập cảnh và giấy phép cư trú diện người phụ thuộc không làm việc cho vợ hoặc chồng, cho các con, và cho cha mẹ của người nước ngoài đã được cấp giấy phép theo quyết định này, trên cơ sở đơn do chính người ấy nộp cho Cục Thị thực và Cư trú theo mẫu quy định.
Ba điểm siết lại xung quanh diện ấy. Thứ nhất, giấy phép của người phụ thuộc mang đúng chữ không làm việc trong chính điều luật, nên muốn đi làm là một việc khác chứ không phải một thủ tục bổ sung.
Thứ hai, Điều 8 đặt một hệ quả dây chuyền: Khi giấy phép của người chính bị huỷ thì giấy phép cư trú của vợ chồng, con và cha mẹ bị huỷ theo. Thứ ba, Điều 7 tính tiền theo đầu người: Mỗi giấy phép cư trú cho mỗi người phụ thuộc chịu một khoản phí riêng bằng đúng phí của người chính.
Trường hợp người chính qua đời thì Điều 9 điểm b cho mọi người phụ thuộc một thời gian ân hạn để điều chỉnh tình trạng pháp lý, kéo dài tới hết hiệu lực của giấy phép ở năm thứ mười hoặc một năm, lấy mốc nào dài hơn.
Quyết định không đặt giới hạn tuổi cho con và không đòi điều kiện phụ thuộc tài chính đối với cha mẹ.
Số nước miễn thị thực
Tư cách mà chương trình này cấp, dù là thị thực hay thẻ cư trú, không thay hộ chiếu của người giữ. Người giữ vẫn đi lại bằng hộ chiếu của nước mình, nên con số dưới đây là của hộ chiếu Bahrain và chỉ trở thành của người giữ khi họ được cấp hộ chiếu Bahrain.
Theo Passport Index của Prosperous Intelligence, dữ liệu ngày 30/09/2026, hộ chiếu Bahrain tới được 94 điểm đến mà không cần xin thị thực lãnh sự trước. Con số ấy gộp ba hình thức nhập cảnh và không tính thị thực điện tử phải xin trước:
| Hình thức nhập cảnh | Số điểm đến |
|---|---|
| Miễn thị thực | 66 |
| Thị thực cấp tại cửa khẩu | 22 |
| Giấy phép du lịch điện tử (eTA) | 6 |
| Cộng, là con số của Passport Index | 94 |
| Thị thực điện tử phải xin trước, không cộng | 46 |
Vì vậy đây là thước đo mức đi lại thuận tiện, không phải số nước miễn thị thực theo nghĩa hẹp.
Để đối chiếu, cùng nguồn và cùng cách đếm, hộ chiếu Việt Nam tới được 44 điểm đến. Hai danh sách điểm đến không lồng vào nhau, nên hiệu số chỉ là chỉ dấu chứ không phải danh sách những nơi được mở thêm.
Prosperous Intelligence ghi ngày cho dữ liệu và khuyến nghị xác minh với cơ quan chính thức của nước đến trước khi đi.
Nghĩa vụ thuế phát sinh
Tại cơ quan cấp chương trình, nội dung trang Golden Residency của Vụ Quốc tịch, Hộ chiếu và Cư trú chưa đối chiếu được, còn cổng dịch vụ quốc gia chỉ liệt kê năm thủ tục và không nói một chữ nào về thuế.
Dữ kiện dưới đây thuộc tầng hai, lấy từ Cơ quan Thu Quốc gia, và điều đáng ghi nhất là giấy phép cư trú tự nó không tạo ra cư trú thuế.
Muốn được cấp giấy chứng nhận cư trú thuế, cá nhân phải hiện diện thực tế tại Vương quốc Bahrain trong một hoặc nhiều khoảng thời gian cộng lại không dưới 183 ngày trong năm xin cấp.
Cơ quan thuế nói thẳng rằng Vụ Quan hệ Thuế Quốc tế sẽ xác minh điều này trực tiếp với Vụ Quốc tịch, Hộ chiếu và Cư trú. Không thoả điều kiện ấy thì đơn bị từ chối.
Giấy phép cư trú chỉ là một trong các giấy tờ phải nộp, và chỉ áp dụng cho thể nhân không mang quốc tịch Bahrain.
Hồ sơ còn phải nêu điều khoản cụ thể của hiệp định thuế hoặc luật nội địa nước kia mà người nộp muốn viện dẫn, kèm ý kiến của một cố vấn pháp lý độc lập đủ tư cách, và phải nộp bằng chứng các khoản đã bị khấu trừ thuế tại nguồn khi cơ quan thuế nước kia yêu cầu xác nhận số tiền.
Một câu phải nói cho đúng phạm vi: Danh mục sắc thuế đang công bố của cơ quan này chỉ gồm ba sắc, là thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt và thuế tối thiểu bổ sung nội địa theo Nghị định-Luật số 11 năm 2024 áp cho doanh nghiệp đa quốc gia có doanh thu toàn cầu từ 750 triệu euro.
Tức không có thuế thu nhập cá nhân trong danh mục ấy, và đó không phải là câu Bahrain không có thuế thu nhập cá nhân.
Chi phí bắt buộc ngoài khoản đầu tư
Phí của diện này là ba trăm dinar Bahrain, và con số ấy phải đọc kèm cách nó nhân lên. Điều 7 viết rằng giấy phép cư trú theo quyết định này được cấp với một khoản phí là ba trăm dinar Bahrain, và một khoản phí ba trăm dinar Bahrain nữa được tính cho mỗi giấy phép cư trú của mỗi người phụ thuộc.
Tức một hồ sơ gia đình bốn người — người chính cùng vợ hoặc chồng và hai con — phải trả một nghìn hai trăm dinar chứ không phải ba trăm.
Quyết định không đặt thêm khoản nào ngoài phí ấy, nhưng nó đặt hai nghĩa vụ tài chính thường bị bỏ ra ngoài bảng tính:
Điều 2 buộc người nộp phải có bảo hiểm y tế tại Bahrain trong suốt thời hạn hiệu lực của giấy phép, tức mười năm chứ không phải một lần khi nộp hồ sơ; và cũng Điều 2 buộc phải có nguồn sống hợp pháp đủ nuôi bản thân cùng người mình nuôi.
Quyết định không in một khoản phí gia hạn riêng, và cũng không dẫn chiếu biểu phí chung của Cục Quốc tịch, Hộ chiếu và Cư trú tại Quyết định số 196 năm 2014 cho việc gia hạn — nên chi phí của kỳ hạn mười năm thứ hai không đọc được từ chính văn bản này.
Lựa chọn đầu tư
| Lựa chọn | Ngưỡng | Loại hình | Trạng thái |
|---|---|---|---|
| Sở hữu bất động sản tại Bahrain | 200.000 BHD | Bất động sản | Đang mở |
| Lương cơ bản bình quân năm năm, dành cho người nước ngoài đang cư trú | 2.000 BHD/tháng | Khác | Đang mở |
| Lương hưu hằng tháng, người đã nghỉ hưu từng làm trong hoặc ngoài Bahrain | 4.000 BHD/tháng | Khác | Đang mở |
| Lương hưu bình quân năm năm, người từng làm tại Bahrain tối thiểu mười lăm năm | 2.000 BHD/tháng | Khác | Đang mở |