Áo cấp quốc tịch theo Điều 10 khoản 6 Luật Quốc tịch 1985 cho người nước ngoài mà Chính phủ Liên bang xác nhận việc nhập tịch nằm trong lợi ích đặc biệt của Cộng hoà vì thành tích đặc biệt đã có và còn được trông đợi, và không ấn định mức đầu tư nào. Điều khoản hiến định ấy gỡ yêu cầu cư trú mười năm, nên diện này không có nghĩa vụ cư trú; theo Prosperous Intelligence, hộ chiếu Áo tới được 201 điểm đến không cần xin thị thực lãnh sự trước.
Tổng quan chương trình
- Tên chính thức chương trình: Citizenship granted in the special interest of the Republic (Citizenship Act, Section 10(6))
- Website: bmi.gv.at
- Cơ quan quản lý: Landesregierung
Ngưỡng vốn tối thiểu
Không ấn định mức đầu tư.
Tiêu chí do Hội đồng Bộ trưởng chốt ngày 25/02/2014 nêu rõ đối với thành tích kinh tế: Phải là chủ doanh nghiệp hoặc giữ vị trí điều hành có ảnh hưởng quyết định, doanh nghiệp có năng lực kinh tế cao, tạo và giữ việc làm đáng kể trên thị trường lao động Áo.
Người ấy còn phải đã thực sự thực hiện đầu tư hay dự án tại Áo — nguyên văn "dòng tiền đơn thuần là không đủ".
Bộ tiêu chí ấy còn ba điểm cho thấy tiền không mua được diện này. Chỉ ngồi trong hội đồng quản trị thì chưa đủ; việc làm phải được tạo ra và giữ ở quy mô đáng kể, nhất là tại các vùng kinh tế yếu của Áo; và doanh nghiệp cần có tiếng cả ở nước ngoài.
Tiêu chí thứ tư là đóng góp vào quan hệ kinh tế song phương và đa phương của Áo. Bộ Nội vụ nói các tiêu chí không phải đáp ứng cùng lúc, nhưng phải đáp ứng phần lớn và có trọng lượng đặc biệt trong đánh giá tổng thể từng hồ sơ.
Kết quả pháp lý
Nhập tịch theo Điều 10 khoản 6 Luật Quốc tịch 1985, cần Chính phủ Liên bang xác nhận rằng việc nhập tịch nằm trong lợi ích đặc biệt của Cộng hoà vì thành tích đặc biệt đã có và còn được trông đợi; riêng huân chương, huy chương không đủ để lập luận về lợi ích đặc biệt.
Thành tích đặc biệt được hiểu là thành tích hiện đang vượt xa mức trung bình trong lĩnh vực của người ấy. Việc nhập tịch không bao giờ mang tính danh dự; nó chỉ được cấp vì những gì người ấy đã làm và còn sẽ làm cho Cộng hoà.
Chính phủ Liên bang là cơ quan duy nhất có quyền xác nhận lợi ích đặc biệt. Bộ tiêu chí năm 2014 nêu bốn lĩnh vực mẫu là khoa học, kinh tế, thể thao và nghệ thuật, nhưng nói rõ danh sách ấy không đóng: Lĩnh vực khác vẫn được xét nếu tiêu chí có trọng lượng tương đương.
Thời gian xử lý công bố
Luật không đặt thời hạn nào cho cơ quan, nhưng nó có một thời hạn hai năm rất nổi tiếng — và điều đáng ghi nhất của ô này là thời hạn ấy không áp cho diện này.
Điều 20 khoản 1 dựng một bước trung gian gọi là bảo đảm cấp quốc tịch: Việc cấp quốc tịch trước hết phải được bảo đảm cho trường hợp người nước ngoài chứng minh được, trong vòng hai năm, rằng mình đã ra khỏi quốc tịch cũ.
Nhưng bước ấy chỉ áp khi hội đủ ba điều kiện, và điều kiện thứ hai chính là chỗ tách diện này ra: Bước bảo đảm chỉ áp khi không áp dụng Điều 10 khoản 6, cũng không áp dụng Điều 16 khoản 2 hay Điều 17 khoản 4.
Nghĩa là người được Chính phủ Liên bang xác nhận theo khoản 6 không đi qua bước bảo đảm, và do đó không phải chứng minh việc từ bỏ quốc tịch cũ trong hai năm.
Đây là điểm bị nói sai nhiều nhất về diện này, và nó đọc được thẳng từ mặt chữ chứ không cần suy luận. Hai điều kiện còn lại của Điều 20 khoản 1, ghi lại để thấy bước ấy phục vụ ai: Người nộp không được là người không quốc tịch, và việc bảo đảm phải làm cho việc ra khỏi quốc tịch cũ trở nên khả thi hoặc dễ hơn.
Khoản 2 cho thấy bước ấy cũng có rủi ro riêng: Bảo đảm phải bị thu hồi nếu người nước ngoài không còn đáp ứng dù chỉ một trong các điều kiện cấp quốc tịch — ngoại trừ điều kiện sinh kế ở khoản 1 điểm 7.
Khoản 3 và khoản 4 khép lại chuỗi này.
Quốc tịch đã được bảo đảm phải được cấp ngay khi người ấy đã ra khỏi quốc tịch cũ, hoặc chứng minh được rằng các hành vi cần thiết để ra khỏi là không thể hoặc không thể đòi hỏi được.
Quốc tịch cũng có thể được cấp ngay khi người ấy làm cho cơ quan tin rằng khoản tiền phải trả để ra khỏi quốc tịch cũ là không tương xứng, xét riêng nó hoặc xét trong tương quan với chi phí cần cho cả gia đình.
Yêu cầu cư trú thực tế
Diện này không có nghĩa vụ cư trú, và lý do thì mạnh hơn mọi diện khác trong bảng: Nghĩa vụ ấy bị gỡ bỏ bằng một điều khoản hiến định. Trước hết phải thấy thứ được gỡ.
Điều 10 khoản 1 điểm 1 của Luật Quốc tịch 1985, bản hiệu lực từ 12/06/2026, đặt mức chung rất cao: Người nước ngoài chỉ được cấp quốc tịch nếu đã cư trú hợp pháp và liên tục trên lãnh thổ liên bang tối thiểu mười năm, trong đó tối thiểu năm năm ở trạng thái định cư.
Điểm 7 của cùng khoản đòi sinh kế được bảo đảm đầy đủ, trừ trường hợp người ấy không tự bảo đảm được vì những lý do thực tế nằm ngoài trách nhiệm của mình.
Điều 10 khoản 6 gỡ đúng hai điểm ấy cộng cả khoản 3, và bản thân điều khoản được đánh dấu nguyên văn là điều khoản hiến định:
Các điều kiện của khoản 1 điểm 1 và điểm 7 cũng như của khoản 3 không áp dụng khi Chính phủ Liên bang xác nhận rằng việc cấp quốc tịch nằm trong lợi ích đặc biệt của nước cộng hoà, vì những đóng góp phi thường mà người nước ngoài đã thực hiện và còn được kỳ vọng sẽ thực hiện.
Ba điều phải đọc kỹ trong câu ấy. Thứ nhất, thẩm quyền xác nhận thuộc về Chính phủ Liên bang như một tập thể, không thuộc một bộ trưởng.
Thứ hai, tiêu chuẩn có hai chiều thời gian — đóng góp đã làm và đóng góp còn được kỳ vọng — nên hồ sơ không đóng lại ở quá khứ.
Thứ ba, chữ dùng là đóng góp phi thường chứ không phải một khoản đầu tư có mức, nên không có ngưỡng cư trú thay thế nào được đặt vào chỗ mười năm vừa bị gỡ.
Thủ tục xin xác nhận ấy thì Điều 10 khoản 7 để ngỏ: Chính phủ Liên bang có thể, theo đề nghị của Bộ trưởng Nội vụ, ban hành một nghị định quy định chi tiết hơn về trình tự xin xác nhận trong các thủ tục theo khoản 6.
Người phụ thuộc được kèm
Luật Quốc tịch gọi cơ chế này là mở rộng việc cấp, và nó chỉ mở rộng cho hai hạng.
Điều 16 mở rộng sang vợ hoặc chồng sống chung một hộ; điều kiện thường là sáu năm cư trú, hôn nhân ít nhất năm năm và tư cách định cư hợp pháp tại thời điểm nộp, nhưng khoản 2 của chính điều ấy nói rằng với diện Điều 10 khoản 6 thì việc thiếu các điều kiện ở khoản 1 điểm 1, 2 và 5 cùng Điều 10 khoản 3 đều không cản trở việc mở rộng.
Tức diện đóng góp đặc biệt được miễn cả sáu năm cư trú, cả tư cách định cư, lẫn năm năm hôn nhân; điều kiện còn lại là cộng đồng hôn nhân chưa chấm dứt, cộng các điều kiện về án tích, an ninh và quan hệ quốc tế.
Bạn đời chưa kết hôn không được công nhận, vì Điều 16 chỉ nói vợ hoặc chồng. Điều 17 mở rộng sang con với ba điều kiện đồng thời là chưa thành niên, chưa kết hôn, và không phải người nước ngoài do bị tước quốc tịch; con nuôi cũng được mở rộng với cùng ba điều kiện.
Khoản 3 bỏ điều kiện chưa thành niên với con khuyết tật đáng kể nếu con sống chung hộ hoặc cha mẹ đang thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng, và khuyết tật phải chứng minh bằng giấy của bác sĩ công trong nước.
Cha mẹ, ông bà và anh chị em không có điều khoản nào. Điều 18 siết chặt thời điểm: Việc mở rộng chỉ được quyết định đồng thời với việc cấp quốc tịch cho đương đơn chính và cùng một thời điểm phát sinh, nên nộp sau là không được. Luật không nêu con số tiền nào, kể cả cho đương đơn chính.
Số nước miễn thị thực
Người được cấp quốc tịch theo chương trình này nhận hộ chiếu Áo, nên con số của ô này là con số của chính hộ chiếu ấy.
Theo Passport Index của Prosperous Intelligence, dữ liệu ngày 30/09/2026, hộ chiếu Áo tới được 201 điểm đến mà không cần xin thị thực lãnh sự trước. Con số ấy gộp ba hình thức nhập cảnh và không tính thị thực điện tử phải xin trước:
| Hình thức nhập cảnh | Số điểm đến |
|---|---|
| Miễn thị thực | 167 |
| Thị thực cấp tại cửa khẩu | 25 |
| Giấy phép du lịch điện tử (eTA) | 9 |
| Cộng, là con số của Passport Index | 201 |
| Thị thực điện tử phải xin trước, không cộng | 33 |
Vì vậy đây là thước đo mức đi lại thuận tiện, không phải số nước miễn thị thực theo nghĩa hẹp.
Để đối chiếu, cùng nguồn và cùng cách đếm, hộ chiếu Việt Nam tới được 44 điểm đến. Hai danh sách điểm đến không lồng vào nhau, nên hiệu số chỉ là chỉ dấu chứ không phải danh sách những nơi được mở thêm.
Prosperous Intelligence ghi ngày cho dữ liệu và khuyến nghị xác minh với cơ quan chính thức của nước đến trước khi đi.
Nghĩa vụ thuế phát sinh
Điều 10 Luật Quốc tịch không nhắc tới Steuer hay Abgabe, nhưng điều đáng ghi là những gì khoản 6 không miễn.
Khoản 6 là một điều khoản hiến định, cho nhập tịch khi Chính phủ liên bang xác nhận việc trao quốc tịch nằm trong lợi ích đặc biệt của nước Cộng hoà vì những đóng góp phi thường đã thực hiện và còn được trông đợi của người nước ngoài.
Nó miễn cho đương đơn điều kiện mười năm cư trú ở khoản 1 điểm 1, điều kiện sinh kế bảo đảm ở điểm 7, và nghĩa vụ thôi quốc tịch cũ ở khoản 3, nên diện này được giữ song tịch.
Nhưng khoản 1 điểm 3 và điểm 4 vẫn áp dụng: Người xin không được bị toà án trong nước kết án tù vì tội phạm tài chính, tức tội về thuế và hải quan, và không được đang bị điều tra hình sự vì tội ấy.
Đây là điều kiện loại trừ mang tính thuế, và nó nằm ngoài danh sách được miễn.
Tầng hai là phép ghép chứ không phải chữ của luật quốc tịch.
Luật Thuế thu nhập Điều 1 khoản 2 gắn nghĩa vụ thuế vô hạn, phủ mọi thu nhập trong và ngoài nước, vào nơi cư trú hoặc nơi lưu trú thường xuyên trong nước chứ không vào quốc tịch, còn khoản 3 giới hạn người không có cả hai thứ ấy ở nghĩa vụ thuế hạn chế.
Luật Thuế vụ Điều 26 khoản 2 làm nơi lưu trú thường xuyên phát sinh bắt buộc khi lưu trú trong nước quá sáu tháng, với nghĩa vụ thuế khi ấy hồi tố về cả sáu tháng đầu.
Chế độ ưu đãi cho người chuyển đến có tồn tại nhưng định nghĩa diện này ra ngoài: Điều 103 Luật Thuế thu nhập cho xoá phần thuế tăng thêm do phát sinh nơi cư trú trong nước, cùng một khoản miễn trừ 30 phần trăm trong năm năm, nhưng chỉ dành cho người đến vì khoa học, nghiên cứu, nghệ thuật hoặc thể thao.
Chi phí bắt buộc ngoài khoản đầu tư
Ba khoản phí được cơ quan công bố thành con số cụ thể, và khoản nặng nhất chỉ phát sinh khi hồ sơ thành công.
Thành phố Viên, cơ quan tiếp nhận hồ sơ nhập tịch trên địa bàn của mình, công bố mức tính theo từng người: 163 EUR phí nộp đơn cho người đã thành niên, 89 EUR phí nộp đơn cho người chưa thành niên, và 1.918 EUR cho quyết định khi quốc tịch Áo được cấp.
Hai điều kiện đi kèm phí nộp đơn quyết định rủi ro thật của người nộp: Phí ấy vẫn phải trả kể cả khi hồ sơ bị từ chối, nhưng không phải trả nếu người nộp rút đơn trước khi nhận được quyết định.
Việc mở rộng quốc tịch sang thân nhân phát sinh chi phí thêm, và cơ quan liệt kê tiếp một nhóm khoản không định giá trước: Chi phí xin cấp, dịch và hợp pháp hoá giấy tờ, chi phí làm giấy chứng nhận quốc tịch và chi phí làm hộ chiếu.
Hoá đơn tổng được gửi kèm quyết định. Một ranh giới về phạm vi phải nói rõ: Nhập tịch ở Áo do chính quyền bang thực hiện, nên ba con số trên là mức Thành phố Viên công bố cho địa bàn của mình, và một bang khác có thể công bố mức khác.
Căn cứ pháp lý cơ quan tự dẫn là Luật Quốc tịch 1985, và đường dẫn đi kèm trỏ tới mục nhập tịch vì lợi ích đặc biệt của Cộng hoà theo Điều 10 khoản 6 do Bộ Nội vụ Liên bang giữ. Trang mang ngày cập nhật cuối 10/09/2026.